26.1.08

T.T LÊ NGUYÊN VĨ

Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh

Tinh thần bất khuất ngút trời xanh,
Giãi tỏ lòng trung quyết giữ thành.
Dũng mãnh nghìn đời luôn rạng sử,
Can trường muôn thuở mãi lừng danh.
Kiên cường độc nhất thù tan xác
Ý chí vô song giặc nát hình.
Chính khí lăng sương bia đá tạc,
Lưu truyền gương sáng chói tinh anh.

2/2- Anh hùng, hào kiệt cõi Nam Bang,
Tận lực cùng xây dựng xóm làng.
Dẹp giặc, quanh năm phô nghĩa khí,
Diệt thù, suốt tháng tỏ trung cang.
Oán người bán nước vơ châu báu,
Hận kẻ buôn dân, vét bạc vàng.
Thân xác tiêu tan, còn chính khí,
Danh Lê Nguyên Vĩ rạng muôn phương.

4-4-2006 TRƯỜNG GIANG

VUA LÊ LỢI

1/2- Hoàn Kiếm nghìn xưa vẫn chốn này,
Lưu truyền tích cũ đến ngày nay.
Linh Quy phò Chúa lên ngôi báu,
Bảo kiếm gìm Minh xuống vũng lầy.
Dũng khí muôn đời vang Bể Bắc,
Uy danh vạn đại dội Trời Tây.
Bình Ngô Đại Cáo còn văng vẳng,
Công đức Lê Vương tựa đất dày.

2/2- Dày công rèn luyện để làm gương
Khởi nghĩa Lam Sơn chí quật cường
Gian khổ diệt thù khôn kẻ sánh
Kiên trì dẹp giặc khó ai đương
Thương dân quyết chí xây khuôn phép
Yêu nước chuyên tâm dựng mối rường
Lịch sử muôn sau còn rạng rỡ
Toàn dân noi dấu đấng Quân Vương
TRƯỜNG GIANG

LÊ LAI CỨU CHÚA


1- Lê Lai cứu chúa sử còn ghi,
Kim cổ Đông Tây mấy kẻ bì.
Giả dạng quân Vương nêu Thánh Đức,
Thay hình chủ Xoái tỏ Thần Uy.
Thù giam, anh dũng không thèm lạy,
Giặc bắt, hiên ngang chẳng chịu quỳ.
Một trận Chí Linh toàn thắng lợi,
Nghìn sau danh tiếng vượt biên thùy.

2- Biên thùy giữ vững đến thi thu,
Hào kiệt quên thân diệt giặc thù.
Nghĩa khí trượng phu luôn sáng chói,
Hào hùng tuấn kiệt chẳng mờ lu.
Cứu nguy đất nước thôi kìm kẹp,
Giải thoát quê hương khỏi ngục tù.
Ý chí ngút trời vì quốc nạn,
Nghìn sau giữ vẹn giải biên khu.

TRƯỜNG GIANG

25.1.08

KẺ ĐẾN SAU

1/2- Nhanh thì làm chị, chậm làm em,
Bồ liễu hai ta phận yếu mềm.
Nhanh bước “người” giành làm chủ trướng
Chậm chân “mình” phải đứng bên rèm
Năm canh ray rứt bao tâm sự ?
Sáu khắc băn khoăn lắm nỗi niềm !
Trời hỡi ! “ai” ăn, “ta” phải nhịn !!
Biết rầy xuống tóc, đổi y xiêm !!!

2/2- Y xiêm lộng lẫy cũng là thừa...
Tối tối nằm trơ đã thảm chưa ?
Vì hám anh đồ nên phải thiếu,
Bởi ham thầy khóa mới ra thừa.
Năm canh ngóng đợi, lòng như bún,
Sáu khắc chờ mong, dạ tựa dưa,
Ới chị em ơi xin nhớ kỹ!!
Chồng chung, vợ chạ nguyện xin chừa...

1991 TRƯỜNG - GIANG.

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG


1/2- Trần Triều hiển Thánh bậc anh hùng,
Hưng Đạo ba lần chống giặc Mông.
Vạn Kiếp Thần Uy, quân bái phục,
Bạch Đằng Thánh Đức, tướng tôn sùng.
Thoát Hoan thất thế đành quy tẩu,
Ô Mã sa cơ phải thất tung.
Lên ngựa đã thề không trở lại,
Nếu chưa diệt hết giống tàn hung.

2/2- Hung tàn cướp phá khắp quê hương,
Hưng Đạo điều quân lập chiến trường.
Ô Mã kinh hồn, Hàm Tử Khẩu,
Thoát Hoan táng đởm, Bạch Đằng Giang.
Chiến công hiển hách khôn người đếm,
Võ nghiệp uy phong khó kẻ lường.
Hiển Thánh muôn đời dân phụng tự,
Vì lòng trung nghĩa tỏa muôn phương.
TRƯỜNG GIANG

ĐẠI TÁ HỒ NGỌC CẨN

(Tỉnh Trưởng Tỉnh Chương Thiện)

1/2- Bao năm tận lực chống vong nô,
Quyết chí không dung lũ tội đồ.
Chẳng xá hiểm nguy chôn áp bức,
Không nề gian khổ lấp tham ô.
Rừng sâu quần thảo cùng quân Cộng,
Núi thẳm giao tranh với giặc Hồ.
Vì nước tiếc gì thân tứ đại,
Suối vàng thề diệt họa tam vô.

2/2- Vô cùng thương tiếc bậc trung cang,
Dẹp giặc Cộng nô, chủ chiến tràng.
Vận động hành quân, tài đởm lược,
Tham mưu ước tính, chí mênh mang.
Lấy Nhân định quốc đà rành rẽ,
Đem Nghĩa an dân, đã rõ ràng.
Nhìn thẳng quân thù, lời dõng dạc :
“Ta đây giòng Tế Thế, An Bang”

4-4-2006 TRƯỜNG GIANG

GƯƠNG BẤT KHUẤT.

(Tướng LÊ VĂN HƯNG)
1- Sinh vi danh tướng, tử vi thần,
Bảo vệ thành trì chẳng tiếc thân,
Giặc Cộng kinh hồn đà mấy lượt ??
Gian nhân táng đởm đã bao lần ??
Hiểm nguy chẳng quản vì thương nước,
Khổ ải chi màng bởi quý dân.
Lịch sử nghìn sau danh chói lọi,
Thù nhà, nợ nước vẹn trăm phần.

2-Trăm phần thương tiếc Tướng Lê Hưng!!
Khí tiết xung thiên thực lẫy lừng.
Diệt Cộng cho dân mau thịnh đạt,
Trừ gian để nước chóng trung hưng.
Tài cao lỡ vận khôn bay bổng,
Chí lớn sa cơ khó vẫy vùng.
Để lại nghìn sau gương chính khí,
Đem thân thách đố giặc tàn hung.
QUỐC HẬN 30 -4 -
TRƯỜNG GIANG.

GÀ GÁY SÁNG


* Thiên hạ còn mê ngủ khắp nơi,
Gà đà eo óc gáy vang trời.
Gọi cô thương mại thùng dầu cạn,
Kêu bác nông phu ruộng nước vơi.
Trai gái biếng lười đem sách học,
Trẻ già trễ nải lấy khoai phơi.
Những ai chưa tỉnh đều cần tớ (1)
Vắng mỗ (2) nhân sinh ắt rối bời…

* Bời bời tâm sự hỡi ai ơi !!
Gọi kẻ còn mê ngủ khắp trời.
Đồng cạn cứ mê say hưởng thụ,
Ruộng khô lại thích thú rong chơi.
Công, Nông hưng thịnh đều tăng vốn,
Thương, Kỹ suy vi thảy giảm lời.
Thiên hạ lắng nghe ta réo gọi !!
Đừng mê rằng chuột nói là dơi…
5/2002
TRƯỜNG GIANG

GHI CHÚ (1 + 2) là tiếng ở thôn quê Miền Bắc
Việt Nam thường nói vào thời điểm trước 1945

ĐINH TIÊN HOÀNG Đế


Cờ lau tập trận buổi thanh niên,
Chính khí lừng danh khắp mọi Miền.
Đem gạo nuôi quân thời lận đận,
Giết trâu khao tướng thủa truân truyên.
Linh sơn xuất hiện người uy dủng,
Thánh địa sinh ra bậc đại hiền.
Dẹp hết xứ quân gom một mối,
Quê hương thịnh trị nước bình yên.

Yên dân xây dựng đẹp quê hương,
Khuyến khích toàn dân phải quật cường.
Dẹp giặc Bắc Phương yên đất nước,
Diệt thù Nam Ngạn vững biên cương.
Tài cao dựng nghiệp khôn người sánh,
Chí lớn xưng Vương khó kẻ nhường.
Thánh địa Hoa Lư còn dấu tích,
Đinh Tiên Hoàng Đế rạng muôn phương.
TRƯỜNG GIANG


CẢ NƯỚC VÙNG LÊN

1/4- Ngàn năm một thuở gặp thời cơ,
Cả nước vùng lên quyết dựng cờ.
Phạt Tống, Đại Hành (1) vang sử hoc,
Bình Mông, Hưng Đạo, dội văn thơ.
Núi Nùng muôn trước trong cơn mộng,
Sông Nhị nghìn sau giữa giấc mơ.
Tự cổ dĩ lai dường chỉ một,
Lưu truyền sử sách nét son tô

2/4- Nhân hòa, địa lợi có thời cơ,
Quật khởi toàn dân đã phất cờø.
Diệt Mãn, Quang Trung lừng chiến sử,
Trừ Minh, Lê Lợi rạng văn thơ.
Núi Nùng anh dũng, Thanh buông mộng,
Sông Bạch kiêu hùng, Tống dứt mơ.
Nhắn lũ bá quyền nên giữ phận,
Kẻo rồi chuốc lấy tiếng ngây thơ.

3/4- Toàn dân không bỏ lỡ thời cơ,
Máu giặc bao phen nhuộm sắc cờ.
Ô Mã kinh hồn khi thất thế,
Thoát Hoan táng đởm lúc sa cơ,
Liễu Thăng muôn thuở dân nguyền rủa,
Lê Lợi nghìn năm nước phụng thờ.
Sông Nhị, núi Nùng reo Độc Lập,
Mùa Xuân vĩnh cửu há rằng mơ

4/4- Tập đoàn Cộng Sản cướp thời cơ,
Kháng Pháp gạt dân chúng phất cờ.
Dấu mặt dối lừa người dại dột,
Trá hình bịp bợm kẻ ngây thơ.
Đau thương chồng chất sao còn mộng ??
Khổ lụy tràn đầy chửa hết mơ ...
Đoàn kết quyết tâm dân quật khởi
Quê hương rồi sẽ đẹp như thơ...
Canada, 5/2002 TRƯỜNG GIANG

(1) Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn được Hoàng Hậu Dương Vân Nga (vợ Vua Đinh Tiên Hoàng) và Triều đình tôn làm Vua tức Vua Lê Đại Hành, thay thế Đinh Tuệ con Vua Đinh Tiên Hoàng. Vua Tống đem quân sang đánh. Đại Hành chống quân Tống tại Bạch Đằng, dụ tướng giặc là Hầu Nhân Bảo đến hiểm địa tại Chi Lăng (Lạng Sơn) chém chết

BỨC TƯỜNG Ô NHỤC

Đông, Tây nước Đức cách ngăn nhau,
Bằng bức tường cao quá khỏi đầu,
Lý tưởng bất đồng, chia cốt nhục,
Lập trường dị biệt, tạo thương đau.
Quốc gia, Cộng Sản hai khuynh hướng,
Dân chủ, Tự do một nhịp cầu.
Tỉnh ngộ, cùng nhau vì Tổ quốc,
“Bức tường ô nhục” hỏi còn đâu ??
21-10-2003 TỪ PHONG

BÀI HỌA 1
Chỉ vì Duy vật phải lìa nhau,
Ruột thịt anh em cũng ngoảnh đầu.
Xã tắc phân ly, hờn tủi nhục,
Sơn hà chia cắt, hận sầu đau.
Luân thường băng hoại, sao không sửa ??
Đạo lý suy vi, lại vẫn cầu !!
Đạp đổ “bức tường ô nhục” xuống,
Độc tài, Đảng trị chạy đi đâu ?!
21-11-2003 TRƯỜNG GIANG

BÀI HỌA 2
TƯỜNG THÀNH

Đau lòng bỏ lại đất chôn nhau,
Lưu dấu tình thâm buổi tuyến đầu.
Nguy biến kề vai từng phút chiến,
Tai nàn sát cánh mỗi cơn đau.
“Ảo danh” giờ đọan tình bè bạn
“Tôi lớn” nay chia cắt nhịp cầu .
Ô nhục tường cao muôn vạn trượng
Mắt mờ nào thấy , sẽ về đâu ?!
22-11-2003

Hạo Nhiên NGUYỄN TẤN ÍCH

BAO GIỜ

Chúng ta đã có Nguyễn Khoa Nam,
Nước mất là thôi, sống chẳng kham.
Thương những tên hèn tuyên bố láo,
Ghét ba thằng hỗn nói năng xàm.
Lăng nhăng vỗ ngực ta làm lớn,
Lui lủi quỳ chân hắn lại ham.
Cứ thấy sự đời mà phát ngán,
Bao giờ cho hết lũ gian tham.

1042004 HUỆ THU

BÀI HỌA

Sử vàng ghi chép tướng Khoa Nam,
Thành mất hy sinh vẫn cứ kham.
Hận lũ “giếng khơi” toàn lếu láo,
Thù phường “bàn độc” rặt ba xàm.
Công danh xế bóng sao còn tiếc,
Sự nghiệp về chiều lại cố ham.
Lợm giọng phải nhìn quân cẩu trệ,
Đã gươm kề cổ , cớ sao tham ??

100402004 TRƯỜNG GIANG

BẠCH XÀ

(Xuân Tân Tị 2001)
“Nọc Rắn miệng Hùm” thật bất công,
Thân tuy bé nhỏ khác chi Rồng.
Vẫy vùng trăm họ đều kinh sợ,
Uốn éo muôn dân thảy hãi hùng.
Chỉ cắn những tên buôn đất nước,
Lại yêu các vị cứu non sông.
Thịt xương cống hiến người suy nhược,
Cóc nhái xưa nay phải khóc ròng.

Cóc nhái xưa nay phải khóc ròng,
Trọn đời mưu ích, giúp nhà nông.
Rượt loài chuột bọ trên nương rẫy,
Bắt giống cua tôm dưới ruộng đồng.
Không quản nhọc nhằn khi gió táp,
Chẳng nể gian khổ lúc mưa giông
Hiến dâng máu thịt cho nhân loại,
Đủ sức thi đua lúc gánh gồng.

TRƯỜNG G IANG
************************************

TỘI LỖI

Vỗ ngực xưng danh kẻ có lòng,
Công đầu giết giặc cứu non sông.
Đấu tranh giai cấp xương đầy ruộng,
Cải tạo công thương máu ngập đồng.
Những tưởng tô bồi nòi Bách Việt,
Nào ngờ vùi giập giống Tiên Long.
Cán cân Tạo hóa lường minh bạch,
Trăm tội ngút trời chỉ một công.

Thần Thánh gì bay lũ rỗng lòng,
Giết dân khơi máu chảy thành sông.
Oan khiên mãn địa vì chuyên chính,
Uất hận xung thiên bởi đại đồng.
Hạnh phúc ô leo cây ô dân khổ lụy,
Tự do ô bánh vẽ ô nước long đong.
Độc tài chuyên chính kìm dân tộc,
Sử chép nghìn sau tội chất chồng,
TRƯỜNG-GIANG

TỘI ĐỒ DÂN TỘC 1


Ai sấp mặt phụng thờ Các Mác?
Ai gục đầu đội xác Lê Nin?
Cam tâm chịu phận tôi hèn,
Chôn vùi đạo lý, bôi đen luân thường.
Ngoài miệng nói theo đường dân tộc,
TânƯ đáy lòng quên gốc Rồng Tiên.
Dựng nền chuyên chính cuồng điên,
Gây bao thảm họa, oan khiên não nề.
Đem thuốc độc bùa mê về nước,
Phỉnh dân ta rằng thuốc trường sinh.
Vì ai đất nước điêu linh?
Trước sau hàng triệu dân lành chết oan.
Ai thuộc loại cờ gian, bạc lận?
Giết bạn bè, thân cận giành ngôi.
Vì ai gia đạo suy đồi?
Cháu đâm Ông nội, con thời tố Cha.
Ai gây cảnh nồi da, xáo thịt?
Ai chủ mưu chém giết sĩ phu?
Ai giam các bậc chân tu?
Ai gây máu thắm, xương khô khắp vùng?
Ai hèn hạ cúc cung tận tụy?
Thờ Nga, Tàu phá hủy nhân luân.
Hỏi ai là giả, ai chân?
Rêu rao, miệt thị “Ngụy quân, Ngụy quyền”?
Ai leo lẻo tuyên truyền “Giải phóng” ?
Lại bày mưu cắt họng nhân dân.
Việt Nam Cộng Sản vô thần,
Ngút trời tội ác, Bạo Tần cũng thua.
Hỏi ai đầu Đảng côn đồ,
Chính danh thủ phạm tên Hồ Chí Minh.
Nghìn sau Sử Việt rành rành,
Còn ghi tên Nguyễn Tất Thành giết dân.
TRƯỜNG GIANG

BÀI HỌA
TỘI ĐỒ DÂN TỘC
(Thi Phẩm MÔT RỪNG CHÍNH KHÍ
của TRƯỜNG GIANG, Trang 192)

Ai giết dân bằng dao, bằng mác,
Sao còn chưa đạp xác Lê Nin.
Văn nô toàn một lũ hèn,
Đỏ loè cờ máu, tối đen luân thường.
Nếu chúng biết con đường dân tộc,
Nếu chúng tin vào gốc Rồng Tiên.
Làm sao chúng nỡ cuồng điên ?
Làm sao gây cảnh oan khiên não nề ?
Đem thuốc độc bùa mê hại nước,
Lại tuyên truyền rằng thuốc trường sinh !!!
Bắc Nam bao cảnh điêu linh,
Thằng ngu ngồi mát, dân lành chết oan.
Đúng là bọn cờ gian bạc lận,
Diệt bạn bè thân cận cướp ngôi.
Thuần phong ngày một suy đồi,
Hợp thời : Bác Đảng, lỗi thời : mẹ cha.
Chúng bày cảnh nồi da xáo thịt,
Có ai đời đi giết sĩ phu !!
Phá chùa, bách hạ thầy tu,
Cơm chan nước mắt, xương khô trắng vùng !!
Thế mà cứ cúc cung tận tụy,
Cứ ngày đêm tiêu hủy nhân luân.
Chúng ta triệu triệu bước chân,
Tiến lên vì nước,vì dân giành quyền.
Đừng tin những lời nguyền giải phóng,ï
Hại đồng bào, xiết họng nhân dân.
Những ai còn có tinh thần,
Xuôi tay nhìn cảnh bạo Tần chịu thua??
Ông cha xây dựng cơ đồ,
Để cho tan nát vì Hồ Chí Minh ??
Sử ghi tội đã rành rành,
Nghệ an tên Nguyễn Tất Thành hại dân !!!
82000 HÀ THƯỢNG NHÂN

BÀI HỌA
TỘI ĐỒ DÂN TỘC
(Thi Phẩm MÔT RỪNG CHÍNH KHÍ
của TRƯỜNG GIANG, Trang 192)

Ai giết dân bằng dao, bằng mác,
Sao còn chưa đạp xác Lê Nin.
Văn nô toàn một lũ hèn,
Đỏ loè cờ máu, tối đen luân thường.
Nếu chúng biết con đường dân tộc,
Nếu chúng tin vào gốc Rồng Tiên.
Làm sao chúng nỡ cuồng điên ?
Làm sao gây cảnh oan khiên não nề ?
Đem thuốc độc bùa mê hại nước,
Lại tuyên truyền rằng thuốc trường sinh !!!
Bắc Nam bao cảnh điêu linh,
Thằng ngu ngồi mát, dân lành chết oan.
Đúng là bọn cờ gian bạc lận,
Diệt bạn bè thân cận cướp ngôi.
Thuần phong ngày một suy đồi,
Hợp thời : Bác Đảng, lỗi thời : mẹ cha.
Chúng bày cảnh nồi da xáo thịt,
Có ai đời đi giết sĩ phu !!
Phá chùa, bách hạ thầy tu,
Cơm chan nước mắt, xương khô trắng vùng !!
Thế mà cứ cúc cung tận tụy,
Cứ ngày đêm tiêu hủy nhân luân.
Chúng ta triệu triệu bước chân,
Tiến lên vì nước,vì dân giành quyền.
Đừng tin những lời nguyền giải phóng,ï
Hại đồng bào, xiết họng nhân dân.
Những ai còn có tinh thần,
Xuôi tay nhìn cảnh bạo Tần chịu thua??
Ông cha xây dựng cơ đồ,
Để cho tan nát vì Hồ Chí Minh ??
Sử ghi tội đã rành rành,
Nghệ an tên Nguyễn Tất Thành hại dân !!!
82000
HÀ THƯỢNG NHÂN

TÌNH HOÀI HƯƠNG

Bao năm đằng đẵng biệt quê nhà,
Rõi đám mây Hàng dạ thiết tha.
Muôn dặm ngóng trông hình bến nước,
Nghìn trùng mơ tưởng bóng cây đa.
Hồi chuông Bát Nhã đưa Tam Tạng,
Tiếng mõ Lăng Nghiêm rước Phật Đà.
Cách trở trùng dương lòng khắc khoải,
Tình nhà, nghĩa nước, giọt châu sa.

Lã chã châu sa, lệ vắn dài,
Nỗi quê biền biệt, tỏ cùng ai??
Chùa hoang, khách viếng chừng ba bốn,
Miếu vắng, người thăm khoảng một vài.
Ao cá đầu thôn, già bắt ốc,
Hồ sen giữa xóm, trẻ mò trai.
Mục đồng về xóm đua nhau hát,
Văng vẳng xa đưa sáo một bài.
TRƯỜNG GIANG


TỈNH GIẤC


Giật mình tỉnh dậy lúc canh thâu,
Nghĩ truyện dân sinh đến nhức đầu.
Móc ngoặc công khai đầy ngõ hẻm,
Tham ô lén lút ngập hang sâu.
CHỦ NHÂN làm việc mờ đôi mắt,
ĐẦY TỚ gom tiền bạc bộ râu.
Quỷ sứ đầu thai hùa tác quái,
Dằn lòng tránh né lũ bò trâu.

Bò trâu một lũ phá quê hương,
Kết đảng theo phe tạo đoạn trường.
Xã tắc ngút ngàn nhiều oán hận,
Giang sơn chồng chất lắm đau thương.
Đội trôn Trung Cộng mưu lừa đảo,
Liếm gót Liên Xô tính gạt lường.
Nước Tổ của chung ai bán đứng ?
Rõ ràng Việt Cộng bọn vô lương.
TRƯỜNG GIANG

TIẾNG THÉT GẦM

Lựa vần gửi các bạn tâm giao,
Để tỏ niềm riêng quá giạt giào.
Bạo Kiệt gây thù cao biết mấy!
Hung Tần gieo hận lớn nhường bao!
Máu hồng tựa suối không thay sắc,
Xương trắng tầy non vẫn thắm màu.
Quốc Tổ Hùng Vương xin chứng giám,
Tiếng gầm vang dội cõi Lâm Thao.

Lâm Thao làm mất vía quân thù,
Nay phải điêu tàn bởi lũ ngu.
Sớm tối trẻ già ô vào ô ngục thất,
Ngày đêm trai gái ô tới ô lao tù.
Thanh trừng thảm khốc,ôi tàn nhẫn,
Đấu tố oan khiên,quá vũ phu.
ô Giải phóng ô giết dân như cóc nhái,
Oan hồn lãng đãng đến nghìn thu.
TRƯỜNG GIANG

HỌA BÀI 1

Hai mùa cách biệt bạn tâm giao,
Nỗi nhớ niềm thương vẫn dạt dào.
Vắng nhạn, thành Tây mong biết mấy,
Xa hồng, Bến Nghé đợi nhường bao.
Tóc da sương gió làm phai sắc,
Tình nghĩa thời gian giữ thắm màu.
Phá cảnh trung viên, xuân phước thới,
Phong vân đắc lộ chí hung thao
HÀ BỬU PHÁT


TIẾNG GỌI BÌNH MINH

Canh khuya gió lộng lọt qua mành,
Khắc khoải trăm bề phải gọi anh.
Còn nhớ năm Châu kèn báo thức?
Hay quên bốn hướng trống tàn canh?
Ầm ầm biển cả kêu nhân lọai,
Xào xạc rừng già gọi chúng sanh.
Thức dậy anh em đi tát nước!!
Mặt trời đã ló rạng bình minh.

Bình minh đã ló rạng lâu rồi,
Việc nước chưa đầy,dạ lửa sôi.
Cố sức chu toàn,đừng vội đứng,
Gắng công hoàn tất chớ nên ngồi.
Thừa cơm tán dóc câu tình ái,
Hết nước bàn khan truyện lứa đôi.
Già trẻ ghé vai cùng gánh vác,
Người mà không nước,sặc mùi hôi.

TRƯỜNG GIANG


TIẾNG ĐỒN

Khắp chốn người ta vẫn kháo rằng
Kháo rằng lũ VẸM chúa hung hăng
Ranh ma rặt tính trò tai quái
Quỷ quyệt toàn mưu việc nhập nhằng
Hai mũi đòn càn chuyên bố láo
Mười voi bát xáo thảy lăng nhăng
Gió gieo bão gặt lời xưa dạy
Chẳng chóng thì chầy gây hết răng

Gẫy hết răng là hết cắn càn
Triệu người vô tội chịu hàm oan
Gia đình đảo lộn vì ô phường,khóm ọ
Xã hội tan hoang bởi ô dảng,doàn ô
Trí,Phú,Địa,Hào giần đến nát
Công,Nông Thương,Kỹ đập bằng tan
Nhân danh ô Giải phóng ô lừa dân tộc
Sử chép nghìn sau tội bạo tàn

TRƯỜNG GIANG


THÓI ĐỜI

Ngao ngán thay cho cái thói đời
Lẽ thường coi chuột qúy hơn dơi
Nghèo vàng giữa chợ không ai hỏi
Giàu bạc trên non khối kẻ mời
Nhân nghĩa thời nay kim đáy biển
Tín thành thủa nọ nhạn lưng trời
Có tiền cũng được mua Tiên nhỉ?
Những tưởng người ta nói để chơi!!

Nói để chơi mà thấy quặn đau
Thói đời nghĩ lắm chi thêm rầu
Thứ dân chuộng lợi như công đậu
Quan chức tranh quyền tựa kiến bâu
Bè bạn giết nhau vì phú qúy
Anh em đâm chém bởi sang giàu
Thiêu thân ánh sáng lao đầu tới
Có biết chui vào chuốc đớn đau??
TRƯỜNG GIANG

2 BÀI HỌA
1/2-Phú trọng bần khinh vẫn thấy đời,
Vô minh thực tánh chuột lầm dơi.
Trần mê bả lợi ma lừa đón,
Tục luyến mồi danh quỷ phỉnh mời.
Bạo Kiệt gây oan còn trách đất,
Hung Tần kết trái lại than trời.
Chứng nhân lịch sử còn vang bóng,
Bến giác không về họa há chơi !!!
HÀ BỬU PHÁT (Cần Thơ)

2/2-Mặc thói chua cay cảnh nghịch đời,
Mình gìn tâm đạo ngại gì dơi.
Đem lòng tuyệt điểm đâu rằng tưởng,
Rải ý cao nhiên dẫu thách mời.
Mới rõ sen lành tuy cận đất,
Cho tường gương sáng dẫu xa trời.
Mỗi điềuphương tiện lồng chân giả,
Chứng cảnh tùy duyên chớ tưởng chơi.
1989 THÍCH HUỆ CHÍ.

THƠ LÀ SÚNG

Kính tặng Thi Lão Hàn Nhân
Nhân dịp ra mắt thi Phẩm
Quê Hương và Mẹ, ngày 8-1-2000

1-Tính năm mất nước đủ hăm lăm,
Suối lệ ngày đêm vẫn ướt đằm.
Đất Tổ triền miên chiêu tủi hận,
Quê Cha liên tục nuốt hờn căm.
Lấy thơ làm súng trừ ma quỷ,
Dùng bút thay gươm diệt thú cầm.
Đáy dạ phát sinh lời chính khí,
Đúc thành đạn bắn lũ vô tâm.

2- Tâm động thần tri vốn thước vàng,
Phò người tế thế, tạo an bang.
Đấu tranh vì nước không hai ngả,
Hoạt động do dân chỉ một đàng.
Đất nước vẫn thừa người nghĩa khí,
Quê Hương không thiếu bậc trung cang.
Văn thơ mạnh tựa binh trăm vạn,
Đánh gục tà gian đã rõ ràng.

TRƯỜNG GIANG

THÉT GẦM

Nào những ai là con Hồng, cháu Lạc?
Đau lòng chưa khi đất nước tan hoang?
Nước Tổ mất, dân tình gà phải cáo
Thét gầm lên cho vang động bi thương!!

Tiếng réo gọi của hồn thiêng đất nước,
Có nghe chăng bảy mươi triệu đồng bào?
Giặc Cộng sản hung hăng phá nước Tổ
Tỉnh hồn chưa hay còn mãi chiêm bao?

Nhìn đất nước tan hoang như xác pháo,
Phải vùng lên để cứu lấy quê hương.
Bao đồng ruộng bạt ngàn thành hoang địa,
Dân khốn cùng vì ôBác Đảngọ bất lương.

Giặc ác độc giết dân lành,cướp bóc,
Bao năm ròng gây thảm họa binh đao.
Chúng phá sạch cả rừng xanh, núi đỏ,
Hận thù này chồng chất ngút trời cao.

Theo tiếng gọi của hồn thiêng sông núi,
Quốc dân ơi hùng dũng bước lên đường!
Mặc gian khổ vẫn không sờn chí cả
Quyết diệt thù để giành lại quê hương.

Hồn Tổ Quốc đã quyện vào thép súng,
Đạn bắn ra mỗi phát một quân thù,
Cả dân tộc vùng lên cùng ý chí,
Giặc Cộng tan rồi, Độc Lập nghìn thu.
TRƯỜNG GIANG

TỨ ĐỨC

CÔNG
Khéo tay kim chỉ ấy là CÔNG,
Son sắt đinh ninh phải để lòng,
Khâu vá chớ nề khi nắng Hạ,
Thêu thùa đừng quản lúc mưa Đông
Miếng ngon xào nấu dâng Bà Cố,
Vật lạ hầm chiên hiến Cụ Ông.
Quét dọn cửa nhà cho sạch sẽ,
Dâu hiền phải giữ nếp gia phong.

DUNG
Trang điểm xưa nay lẽ rất cần,
Phải chiều theo ý của lang quân.
Đen huyền mái tóc năm ba tấc,
Trắng nõn hàm răng tám chín phần.
Má phấn chớ tô màu quá đậm,
Môi son nên điểm nét vừa cân.
Chồng thương vì nết, yêu vì sắc,
Trái ý trăm đường thiệt đến thân.

NGÔN.
Giao tế thân sơ cũng dịu dàng,
Chớ nên lớn giọng nói oang oang.
Tiếng chào hơn cỗ, không bàn ngược,
Hũ mật chết ruồi, chẳng nói ngang.
Lời ngọt còn hơn trăm nén bạc,
Giọng êm không kém chục thoi vàng.
Lựa lời mà nói cho vừa bụng,
Trên dưới ai người chẳng nể nang.

HẠNH
Tính ăn, nết ở phải nêu gương,
Tôn kính người trên, dưới nhún nhường.
Nghèo khó, trẻ già đều quý mến,
Sang hèn, lớn nhỏ cũng thân thương.
Vợ hiền nên nhớ câu gia pháp,
Dâu thảo đừng quên chữ kỷ cương.
Nết tốt xưa nay hơn sắc đẹp,
Đáy lòng hiếu hạnh tự nhiên hương.
Trường Giang






TRỒNG HOA

Chẳng thú gì hơn bón khóm hồng,
Nhánh tươi mơn mởn nở đầy bông.
Trang hoàng để cháu nhìn vui dạ,
Tô điểm cho con ngắm thỏa lòng.
Nhà cửa có Hồng tươi nắng Hạ,
Gia đình không Cúc buốt sương Đông.
Sớm chiều vun xới dù mưa nắng,
Làm đẹp nhân gian vẻ mặn nồng.

Mặn nồng hơn cả chỉ loài hoa,
Vẻ đẹp tăng thêm khắp mọi nhà.
Giàu có, Hồng càng thêm lộng lẫy,
Nghèo hèn, Cúc chẳng bớt kiêu sa.
Mong manh, quý phái như châu báu,
Yểu điệu, thanh tân tựa ngọc ngà.
Nếu cõi trần gian mà thiếu Mỗ,(*)
Thì đời chi khác cõi Diêm La??
TRƯỜNG GIANG

(*) Đại danh tự ngôi thứ nhất,người ở
vùng nông thôn Miền Bắc Việt Nam xưa
thường dùng
********************************************

TRỜI KHÔNG DUNG


Tội ác Trường Chinh khó thể đo
Công Cha, nghĩa Mẹ chẳng hề lo
Rước anh Các Mác về thờ phượng
Khiêng chú Lê Nin đến cậy nhờ
Sấp mặt tố cha rồi chết thảm
Phóng tay phá nước lại nằm co
Xuân Trường Văn học đau như hoạn
Đã lỡ sinh ra một giống bò

Giống bò hủy hoại Phủ Xuân Trường
Phá nước, hại nhà, quả bất lương
Trí thức tộì gì chôn giữa chợ?
Nông dân công thế, lấp bên đường!
Giập vùi Quốc Pháp, buông khuôn mẫu
Đập nát Gia Quy, bỏ kỷ cương
Nghìn trước, nghìn sau và mãi mãi
Trời không tha thứ, đất không thưong
Trường Giang


TRỜI ĐÃ RẠNG ĐÔNG

Vầng Đông đã tỏ vẫn không hay,
Tỉnh dậy người ơi chớ ngủ ngày!!
Nương cạn, gái trai khơi mỗi phút,
Đồng khô, già trẻ tưới từng giây.
Toàn dân thế ngựa cùng lôi gỗ,
Cả nước thay trâu để kéo cầy.
Hải ngoại biết chăng dân khốn- khổ??
Vì tình dân- tộc nối vòng tay.!!

Nối vòng tay lại giúp quê- hương,
Phá nát cùm- gông hết đoạn- trường.
Tôn-giáo giập-vùi mềm tựa bún,
Nhân- quyền chà- đạp nát như tương.
Giang-sơn nghiêng- ngửa vì gian-trá,
Xã-tắc tan- hoang bởi gạt- lường.
Đảng cướp Cộng-nô đang phá nước,
Trẻ già vùng dậy giữ biên- cương.
TRƯỜNG - GIANG






+

TRỚ TRÊU

Năm mươi năm trước tớ hai mươi,
Sức khoẻ ngày nay chẳng vẹn mười.
Bệnh tật gia tăng không kẻ giúp,
Tiền già bớt xén lấy ai nuôi??
Cơm hàng từng bữa ăn hai mạng,
Nhà mướn chung cư ở bốn người.
Đầu tháng một tuần lương hết sạch,
Trách thay con Tạo khéo trêu ngươi.

Trêu ngươi con Tạo khéo đành hanh,
Thất thập lai hi bắt học hành.
Thầy nói thao thao như chẳng dứt,
Trò nghe lõm bõm cứ mần thinh,
Hao đơ si ít nghe không thạo,
Oát đít u đu viết chửa rành.
Thân khổ chỉ vì Em Quốc Tịch ,
Bạc râu học với trẻ đầu xanh. . . . .
TRƯỜNG - GIANG


TRÒ MÚA RỐI

Hà Nội gửi qua đoàn múa rối,
Giở trò giao lưu thật la thối.
Mấy tên trí ngủ uốn cong lưng,
Vài gã việt gian qùy sát gối.
Sấp mặt tôn thờ giống chó mèo,
Gục đầu phụng tự loài lang sói.
Tốn cơm cha mẹ uổng công thầy,
Vì tốt nghiệp VĂN BẰNG PHẢN BỘI.

Phản bội quê hương không đáng sống,
Ăn cơm Quốc gia, thờ ma Cộng.
Bợ trôn giặc, khơi máu thành sông,
Liếm gót thù, gom xương chất đống.
Lũ quỷ đỏ lóc thịt quốc dân,
Bọn ma cô xẻo gân nòi giống.
HOÝC mà không HẠNH ích gì đâu,
Chỉ đáng ăn phân,uống nước cống.

TRƯỜNG GIANG
*****************************************

TRÂU TÂM SỰ

Trời sinh rạ Tớ phận làm trâu
Nhờ Mỗ toàn dân có phố lầu
Vang tiếng cần cù nơi Bể Á
Lừng danh hiền hậu chốn Trời Âu
Giúp dân sớm tối đành gian khổ
Yêu nước ngày đêm chịu giãi giầu
Chẳng quản nhọc nhằn vì nghĩa cả
Tiếng đồn vang dội khắp năm Châu

Năm Châu đều khét tiếng trâu già
Nhân loại thảy đều cậy sức ta
Lạc vũ xá gi, luôn tiến bước
Cuồng phong thây kệ, vẫn xông pha
Giúp dân há phải ham châu báu
Yêu nước nào đâu chuộng ngọc ngà
Kho lẫm hai mùa đầy tới nóc
Vì đời, vượt gió táp, mưa sa
Trường Giang


TRẦN BÌNH TRỌNG

Muốn thân làm chủ cõi Nam Bang,
Đất Bắc ngôi Vua quyết chẳng màng.
Mắng giặc, tôn vinh người khảng khái,
Chửi thù, miệt thị giống sài lang.
Công danh coi rẻ quăng bờ suối,
Quyền lợi xem khinh ném vệ đàng.
Hào kiệt, anh hùng gương chói lọi,
Hậu sinh rèn luyện chữ trung cang.

Rèn luyện trung cang giữ nước nhà,
Đừng làm tủi nhục đến Ông Cha.
Không quên Dân tộc vì vàng bạc,
Chẳng phản quê hương bởi ngọc ngà.
Yêu nước chớ đem con bỏ chợ,
Thương dân đừng nấu thịt nồi da.
Sáng ngời khí tiết Trần Bình Trọng,
Há chịu ô danh trước quỷ tà.
Trường Giang

TỘI NGÚT TRỜI

Công chỉ một thôi, tội cả ngàn
Hùa nhau đục khoét, phá giang san
Thanh trừng đồng chí nhằm tranh ghế
Triệt hạ đàn em để giật bàn
Đảng bán tài nguyên, buồn nẫu ruột
Đoàn buôn hầm mỏ, uất bầm gan
Toàn dân gom hận trong thiên hạ
Thiêu rụi không dung lũ bạo tàn

Bạo tàn phá nước nát như tương
Tội ác gây ra khắp nẻo đường
Dùng kẻ gian tham buôn xứ sở
Giết người trung hậu dựng quê hương
Kết bè đạo tặc, công không có,
Hiệp đảng gian nhân, tội khó lường
Quốc phá, gia vong vì giặc Cộng
Tròi không tha thứ, đất không thương
Trường Giang

TRƯNG NỮ VƯƠNG

1/2- Lừng lẫy năm Châu gái dị thường,
Nghìn năm công đức nhớ Trưng Vương.
Diệt thù coi nhẹ thân bồ liễu,
Dẹp giặc nêu cao chí quật cường.
Nợ nước báo đền dù tốn máu,
Thù nhà trang trải dẫu hao xương.
Sáu lăm thành quách ta làm chủ,
Tô Định thua cơ phải chịu nhường.

2/2- Chẳng nhường tấc đất của Ông, Cha,
Quyết giữ quê hương, lấy lại nhà.
Lưỡi kiếm Anh Thư trừ ác quỷ
Thanh gươm Thục Nữ diệt tà ma.
Nêu cao ý chí nòi Âu Lạc,
Hạ thấp tinh thần giống Hán Hoa.
Dòng Hát âm vang lời chính khí,
Lưu truyền vạn đại tiếng Hai Bà.

TRƯỜNG GIANG

T T TRẦN VĂN HAI

Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh

1/02- Thắng lợi còn vang khắp chiến trường,
Lệnh truyền buông súng, quá bi thương !!
Nghĩa tình Nam Bắc gìm trong máu,
Duyên nợ Đông Tây đứt giữa đường.
Tiết tháo đành trao cho Đất Nước,
Ngậm ngùi xin gửi lại Quê Hương.
Ngút trời oan nghiệt ai cầu đảo ???
Giải thoát cho dân khỏi đoạn trường !!!

2/2- Trường đời nghịch cảnh quá đau thương !!
Có ở trong chăn mới tỏ tường.
Đã hết cậy nhờ thù Bắc Á,
Không còn tin cậy bạn Tây Dương,
Giành quyền lôi kéo lên đầu giốc,
Trục lợi đẩy đưa tới cuối đường.
Chính khí ngút ngàn lưu Sử sách,
Anh hồn phảng phất khắp Quê Hương...

6/4/2006 TRƯỜNG GIANG
(Trong thi Văn Đoàn Bốn Phương
)


ĐỨC TRẦN THỦ ĐỘ


1/2- Đệ nhất lược thao chỉ có Ngài,
Dựng nên nghiệp cả chẳng nhường ai.
Thờ Vua tận tụy không thiên vị,
Chống giặc gian nguy chẳng xá nài.
Dạ sắt xưa nay, duy chỉ một,
Gan vàng sau trước, quyết không hai.
Trung quân, ái quốc, gương muôn thuở,
Thắng giặc Nguyên Mông quả đại tài.

2/2- Nguyên, Mông xâm lấn nước non nhà,
Bảo vệ giang sơn, xã tắc ta.
Hiệu triệu diệt thù, thề quyết chiến,
Hô hào phá giặc, nguyện xông pha.
Lẫy lừng bốn Bể hồn Dân Tộc,
Rạng rỡ năm Châu, phẩm Quốc Gia
Thắng giặc sử vàng lưu hậu thế,
Doanh hoàn vạn đại khúc âu ca.
20/6/2006 TRƯỜNG GIANG

THIÉU NIÊN ANH KIỆT

TRẦN QUỐC TOẢN
1/2- Nghìn năm chí khí lẫy lừng xa,
Số một anh hùng nước Việt ta.
Tuổi trẻ quyết tâm phò xã tắc,
Tài cao nhất trí hộ sơn hà.
Tuyển quân tập huấn, phô trung nghĩa,
Rèn kiếm điều quân, tỏ chính tà.
Bảo vệ quê hương vùi xác giặc
Chung linh tú khí rộng bao la...

2/2- Bao la đất nước thật giàu sang,
Tô điểm quê hương đẹp xóm làng.
Ô Mã tiêu tan, Hàm Tử Khẩu,
Thoát Hoan đại bại : Bạch Đằng Giang
Tài cao, trí cả, thù quy phục,
Đức trọng, uy nghiêm, địch chịu hàng.
Bóp nát trái cam, còn tích cũ,
Nghìn đời khí tiết rợp Nam Bang.
24-06-02006 TRƯỜNG GIANG

ĐỨC THÁNH GIÓNG

1/2- Ba tuổi sinh ra chẳng nói cười,
Một nhà sắc mặt chẳng vui tươi.
Quỷ ma tưởng đã là oan nghiệt,
Thần Thánh ngờ đâu lại tuyệt vời.
Ngựa sắt diệt thù danh vạn nẻo,
Roi thiêng đuổi giặc tiếng nghìn nơi.
Dẹp yên bờ cõi buông danh lợi,
Phù Đổng Thiên Vương ruổi cõi trời.

2/2- Trời sinh Thần tướng đợi phong vân,
Thánh Gióng ra quân chỉ một lần.
Yên ngựa xông pha phù cả nước,
Đường roi vùng vẫy cứu toàn dân.
Đã làm rạmg rỡ danh nòi Việt,
Lại phá tan tành nghiệp giặc Ân.
Phù Đổng Thiên Vương Vua tứ Sắc,
Nghìn sau phụng tự khắp xa gần.
TRƯỜNG GIANG

VUA QUANG TRUNG

1/2- Quang Trung Hoàng Đế diệt quân Thanh,
Đem lại cho dân mọi phúc lành.
Xây đắp giang sơn bằng máu đỏ,
Vun bồi xã tắc bởi đầu xanh.
Mở mang bờ cõi thêm nhiều mặt,
Phát triển quê hương đủ mọi ngành.
Lừng lẫy năm Châu tài lãnh đạo,
Sử vàng muôn thủa rạng uy danh.

2/2- Uy danh muôn thủa Nguyễn Quang Trung,
Dẹp Bắc, bình Nam thật lẫy lừng.
Diệt Trịnh rõ ràng phô chí lớn,
Phù Lê đích thực tỏ lòng trung.
Tan thây giặc Mãn đầy Sông Nhị,
Nát xác quân Thanh phủ Núi Nùng.
Tiếng trống Hạ Hồi như sấm động,
Kinh hồn, táng đởm giống tàn hung.

TRƯỜNG GIANG



T T PHẠM VĂN PHÚ

Tư Lệnh Quân Đoàn II/Quân Khu II

1/2- Mất thành Tướng phải chết theo thành,
Sống nhục sao bằng được thác vinh !!
Trải mật anh hùng, thù phách lạc,
Phơi gan hào kiệt, giặc hồn kinh.
Quyết tâm diệt Cộng, dân cường thịnh,
Nhất trí trừ gian, nước thái bình.
Đã lấy xác thân thay lửa hận,
Rụi thiêu tuyệt nọc giống Hồ tinh...

2/2- Tinh thần bất khuất, núi thua cao,
Hận ngút trời xanh, lệ ứa trào !!
Tướng giỏi nhừơng này chưa sứt mẻ,
Quân hùng thế ấy, chửa tiêu hao.
Vì đâu chốn chốn lìa binh khí ??
Hà cớ nơi nơi cởi giáp bào ??
Vận nước huyền cơ khôn đảo ngược,
Nghìn sau quốc sử xét công lao...
TRƯỜNG GIANG

TT NGUYỄN KHOA NAM.

Tư Lệnh Quân Đoàn IV/ QK IV

* Nước mất, hiên ngang chết với thành,
Lòng trung muôn thuở ngút trời xanh.
Quân thù khiếp vía, khi xung trận,
Tướng giặc kinh hồn, lúc tiến binh.
Vận nước suy vi khôn chuyển bước,
Cơ trời huyền diệu, khó xoay mình.
Sống không hổ thẹn cùng nhân thế,
Vạn đại anh hồn ắt hiển linh.

* Hiển linh chói sáng với thời gian,
Quốc sử nghìn sau vẫn luận bàn.
Hào kiệt phơi bày lòng dũng cảm,
Anh hùng giãi tỏ dạ trung can.
Để gương hậu thế, ngời bia đá,
Noi dấu tiền nhân, chói bảng vàng.
Tuẫn tiết vẹn thề trung với nước,
Vang lừng chính khí Nguyễn Khoa Nam.

170601 TRƯỜNG GIANG.

BÀI HỌA
Một thuở yên ba sóng cuộn thành,
Ngút ngàn bão nổi giạt rừng xanh.
Tuốt gươm dũng khí điều muôn trận,
Thúc ngựa uy danh khởi vạn binh.
Đất mất, quân tan, sầu vận nước,
Phận nhàn, quốc loạn, nhục thân mình.
Thà đem tiết tháo như danh tướng,
Chịu nát thân vùi chốn địa linh.

* Địa linh sinh tuấn kiệt trần gian,
Lưu sử nghìn sau há luận bàn.
Mãnh tướng trận tiền gương dũng liệt,
Hiền thần dưới trướng rạng tâm can.
Thủ Huân kiêu hãnh lòng dân tộc,
Trương Định vinh danh nét sử vàng.
Thà chết khỏi nhìn non nước nhục,
Khoa Nam theo vết Tướng Nhà Nam.

Hạo Nhiên NGUYỄN TẤN ÍCH.

GƯƠNG CHÍNH KHÍ

(TRUNG TÁ CẢNH SÁT NGUYỄN VĂN LONG
tuẫn tiết trước Tòa Nhà Quốc Hội VNCH
tại SAIGÒN sáng 30-04-1975)

1/2- Suốt đời chiến đấu xá chi thân,
Trọng chữ Tự Do tựa Thánh thần,
Phá nước Hồ, Đồng hô cứu nước,
Giết dân Khu, Duẫn nói thương dân
Cộng nô tội phá hàng nghìn lượt,
Cảnh lực công xây đến vạn lần.
Quốc hận chất chồng bao nghiệt ngã,
Nghìn sau lên án lũ phi nhân.

2/2- Nhân đức Miền Nam thật sáng ngời
Nêu cao Chính Nghĩa khắp nơi nơi.
Giúp dân sớm tối không hề đổi
Dẹp bạo ngày đêm chẳng chút rời.
Gìn giữ an ninh nơi hội nghị,
Duy trì trật tự chốn vui chơi.
Nước không còn nữa, đi theo nước,
Muôn thuở trung cang rạng đất trời...

9-04-2006 TRƯỜNG GIANG



LÝ THƯỜNG KIỆT

1/2- Uy danh lừng lẫy khắp lân bang
Tấn Bắc, bình Nam giữ xóm làng
Đánh Tống kinh hồn Vua Lưỡng Quảng
Bình Nam khiếp vía Chúa Đồ Man
Thiên thư định phận quyền riêng biệt
Địa giới phân ranh đất rõ ràng
Một ngọn trường thương tan giặc dữ
Sử vàng muôn thủa chép nghìn trang

2/2- Nghìn trang sử chép để ghi công
Thường Kiệt oai phong giống Lạc Hồng
Giải phóng toàn dân qua cũi xích
Cứu nguy cả nước thoát cùm gông
Nhất tâm phụng Chúa không hai dạ
Quyết chí thờ Vua chỉ một lòng
Để lại nghìn sau gương chói lọi
Trung thành với nước cứu non sông.

TRƯỜNG GIANG

HUÊNH HOANG

Có giỏi gần xa đã tiếng đồn,
Dại ngây còn lớn giọng rằng khôn
Ngu si thích giở trò cuồng chữ
Dốt nát ưa bày thói lộng ngôn
Chẳng biết khiêm nhường theo đạo nghĩa
Lại còn ngang ngược bỏ trung ngôn
Lắng nghe lời phải mà tu dưỡng
Kẻo tiếng chê cười giống ác ôn.

Giống ác ôn kia có biết không
Hận bay cũng cá chậu chim lồng
Học LÊ sớm tối như loài cưỡng,
Tụng MÁC ngày đêm tựa giống nhòng
Quên gốc Lạc Hồng, đau đớn chửa?
Nhớ nguồn Mác Xít, thảm thê không?
Mồ cha bỏ phế không thăm viếng,
Đống mối can chi lại khóc ròng?

1994 TRƯỜNG GIANG

HỌP BẦY

Bầy thú tranh nhau tấu mục hài,
Càng khuya chúng lếu láo càng dai.
MÈO MUN bảo CHÓ lưng tao dẻo,
KHỈ ĐỘT khoe MÈO đít tớ chai.
LƠÝN Ỷ chửi BÒ ăn lén lút,
DÊ XỒM mắng NGỰA đớp công khai.
TRÂU GIÀ đủng đỉnh lời đanh thép,
Bốc hốt nhanh lên kẻo nữa hoài.

Hoài công nghe chúng nó huênh hoang,
Toa rập cùng nhau lũ điếm đàng.
Quỷ quyệt ma đầu mưu dược quý,
Dối lừa trưởng giả học làm sang.
Giang sơn chồng chất niềm cay đắng,
Đất nước tràn lan nỗi bẽ bàng.
Thay mặt đổi hình cho khác vẻ,
Chung quy bản chất vẫn sài lang.
TRUONG GIANG

HƠI ĐỒNG

Xưng mình là Thánh, nhận là Tiên
Tiên, Thánh chi mô chỉ hám tiền
Đạo lý bán non cho lũ cướp
Luân thường mua góp của phường điên
Chỉ vì mùi bạc mưu lừa đảo
Bởi tại hơi đồng tính xỏ xiên
Bán nghĩa, buôn nhân ai đó tá?
Sao không nghĩ đến lẽ oan khiên!

Oan khiên chồng chất lắm ưu phiền
Chỉ tại trường đời quá đảo điên
Nói ngược là xuôi vì thích bạc
Thay đen thành trắng bởi ham tiền
Thiện tâm ít bạc thường mang họa
Aỳc đức nhiều vàng chẳng mắc xiên
Đảo lộn kỷ cương đều bởi nó
Nhân tình, thế thái quá vô duyên
TRUONG GIANG

HOÀI HƯƠNG 1

Bốn chục năm trường cách biệt nhau
Bao nhiêu kỷ niệm bấy nhiêu sầu
Cây đa đầu xóm dân còn trú?
Ao cá giữa làng khách vẫn câu?
Miếu mạo tứ thời từ cúng tế?
Chùa chiền bát tiết vãi hương dầu?
Nhớ quê phóng mắt tìm mây Bắc
Tâm sự vơi đầy biết để đâu!

Biết để vào đâu hết đoạn trường
Nỗi lòng tha thiết nhớ quê hương
Con diều cao vút nơi đầu xóm
Tiếng sáo vi vu ở cuối đường
Mùi lúa thơm lừng,màu trái chín
Hương sen thoang thoảng bóng hồ gương
Tình quê lai láng bao tâm sự
Chỉ ước quê xưa được phú cường
TRUONG GIANG

HOA HỒNG

Một đoá Hồng hoa giá mấy vàng,
Sắc màu trang nhã quả là sang.
Trang hoàng Khánh Hạ tươi thôn xã,
Tô điểm Tân Xuân đẹp xóm làng.
Xã hội có Hồng thêm lịch lãm,
Nhân quần không Cúc thiếu khang trang.
Trần gian tươi thắm vì hoa cả,
Lại đượm mùi thơm rất dịu dàng.

Dịu dàng gây cảm hứng thi nhân,
Đắc ý nên câu thực tuyệt trần.
Trạng, Luận, đối niêm vần rất xứng,
Phá, Thừa so vận ý vừa cân.
Nhặt khoan dòng nhạc như mây cuốn,
Trầm bổng lời thơ tựa gíó vần.
Tô điểm cho đời thêm nhựa sống,
Phô bày hương sắc, vẻ thanh tân.

TRƯỜNG GIANG

HỀ MỚI TUỒNG XƯA

Đỗ Mười sắp chết đứa náo thay?
Hay lại chưng ra lũ mặt dày.
Dốt nát chương trình đều vá víu,
Ngu đần kế hoạch thảy loay hoay.
Tham quan vẫn cứ tăng đầy dẫy,
Ô lại nào đâu giảm mảy may.
Đổi mới bày mưu rồi mới đổi,
Đứa chuyên nghề cuốc thế tên cày.

Đứa chuyên nghề cuốc thế tên cày,
Chức trọng quyền cao nó đắm say.
Bạc nén vơ càn từ ô chốn ấy ô
Vàng thoi cướp giật ô tại nơi này.ọ.
Gia Quy chắp vá, toàn đi mượn,
Quốc Pháp lăng nhăng, rặt hỏi vay.
Đất nước xác xơ,dân đói rách,
Chung quy bởi tại lũ ăn mày..

TRƯỜNG GIANG
***************************************************

HẠNH NGỘ

(Thân tặng Bạn Lê Thanh Bảo, chuyên viên
khảo cứu nhạc dân Tộc. Gặp tại nhà anh Tống Ngọc Đông
(bạn của chị Nguyễn thị Hoa, vợ Trung Tá Đ. Đ. K,

Cơ duyên hạnh ngộ giữa Thăng Long,
Hàn sĩ tài ba ắp tấm lòng
Khí tiết xung thiên trùm đất nước
Can trường mãn địa phủ non sông
Vần thơ chính khí vang Miền Bắc,
Câu phú trung thành dội Biển Đông
Chỉnh đốn kỷ cương văn hóa Việt
Chẳng sờn gian khổ, sợ cuồng phong

Phong hóa ai đem lót ghế ngồi?
Nhân tình, thế thái bạc như vôi
Gia quy băng hoại không un đúc
Quốc pháp suy vi chẳng đắp bồi
Dạy gái lăng loàn, tình đảo ngược
Khuyên trai cuồng tín, nghĩa buông xuôi
Vẽ mày, bôi mặt làm ông lớn
Nhâng nháo chường ra mặt lọ nồi

TRƯỜNG GIANG

GƯƠNG NGHĨA KHÍ (NTH)

Kỷ niệm Yên Bái 17-2-1930
(NGUYEN THAI HOC)

Cứu nước Trượng phu đã bỏ mình,
Không thành công tất cũng thành danh.
Mười ba tuấn kiệt chưa tròn nghĩa,
Thì một anh thư đã vẹn tình.
Giặc Pháp xâm lăng nên bạo ngược.
Người Nam bảo quốc quyết hy sinh.
Nét son chói lọi gương Yên Bái,
Tô điểm nghìn sau sử nước mình.

Nước mình sinh sản lắm anh hùng,
Quốc hận phục thù quyết nấu nung.
Chém lũ buôn dân, loài bọ chét,
Diệt phường cướp nước, giống vi trùng.
Giặc Hồ quên gốc nên quỳ gối,
Thái Học nhớ nguồn chẳng uốn lưng.
Yên Bái ngút ngàn gương nghĩa khí,
Ba Đình ngập ngụa máu tàn hung.

TRƯỜNG GIANG

GỬI BẠN HÀ NỘI

(Tăng Ban Lê Thanh Bảo, Nhac sĩ cổ điển dân Tộc)

Xa quê nhớ cảnh vật Thăng Long
Lựa vận đề thơ tỏ nỗi lòng
Ngoài ấy Bác không quên đất nước
Trong này tôi vẫn nhớ non sông
Bác xây đạo nghĩa nòi Viêm Việt
Tôi đắp nhân luân giống Lạc Hồng
Ba mối, năm giềng còn vững móng
Chẳng làm tủi hổ dến Cha, Ông

Ông Cha gầy dựng nước non nhà
Chống Bắc, bình Nam giữ quốc gia
Lê Lợi diệt Minh, phù xã tắc
Quang Trung dẹp Mãn, định sơn hà
Người buôn dân tộc không thương tiếc
Kẻ bán quê hương chẳng sót xa
BÁC đến, bốn phương khăn gói chạy
Đã rơi mặt nạ kẻ gian tà

TRƯỜNG GIANG



GIÒNG GIỐNG TIÊN LONG


Tinh thần bất khuất giống anh hùng
Ý chí kiên cường dạ thủy chung
Mông Cổ khiếp oai Trần Quốc Tuấn
Mãn Thanh kinh sợ Nguyễn Quang Trung
Năm Châu nhớ mãi dòng sông Nhị
Bốn bể quên sao ngọn núi Nùng
Dựng lại gia phong,xây quốc pháp
Nước nòi Hồng Lạc đẹ hơn nhung

Đẹp hơn nhung lụa,nước non nhà
Đất Tổ ai mà chẳng thiết tha
Cẩm tú giang sơn,trai tuấn kiệt
Chung linh xã tắc,gái tiên nga
Vang lừng bốn Bể nhiều vàng bạc
Nức tiếng năm Châu lắm ngọc ngà
Dẹp Bắc,bình Nam thù táng đởm
Nghìn sau truyền tụng khúc âu ca.

TRỪƠNG GIANG


ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN

Mười voi bát xáo vẫn còn vơi,
Một tấc ba hoa đến tận trời.
Nói có là không, chơi hóa thật,
Thay đen đổi trắng, thật mà chơi.
Phân gà xúi trẻ không hai lượt,
Bã mía theo voi chỉ một thời.
Nhà cháy hỡi ôi lòi mặt chuột,
Dơi mà lộn kiếp vẫn hoàn dơi,

Loài dơi có cánh,chuột thì không,
Thay đổi dung nhan để lộn giòng.
Kẻ bảo là dơi thì vẫy cánh,
Người hô rằng chuột lại xù lông.
Láo liên cặp mắt đen thành đỏ,
Trí trá đôi tay trắng hóa hồng.
Thiên hạ khinh khi đều lộn mửa,
Ngàn sau dơi vẫn chẳng là công
TRƯỜNG GIANG

ĐOÀN KẾT MỘT LÒNG

Bao năm đất nước chịu long đong
Vì bọn Tam vô phá giống giòng
Bẻ ná hận Đoàn trừ Trí, Phú
Quên nơm oán Đảng diệt Công, Nông
Giang sơn băng hoại vì Khu, Giáp
Xã tắc khuynh nguy bởi Duẩn, Đồng
Muốn cứu quê hương qua khổ nạn
Toàn dân đoàn kết mới thành công

Thành công đưa nước tới vinh quang
Già trẻ yên vui, đẹp xóm làng
Phát triển Thương- Trường cùng thế giới
Đua chen Công- Nghiệp với lân bang
Mở mang Giáo- Dục cần sâu rộng
Xây dựng Giao-- Thông phải nhịp mhàng
Cả nước quyết tâm cùng ý chí
Tập đoàn Việt Cộng ắt tan hoang
TRƯỜNG GIANG

ĐINH TIÊN HOÀNG ĐẾ

Cờ lau tập trận buổi thanh niên,
Danh tướng lừng danh khắp mọi Miền.
Đem gạo nuôi quân thời lận đận,
Giết trâu khao tướng thủa truân truyên.
Linh sơn xuất hiện người uy dủng,
Thánh địa sinh ra bậc đại hiền.
Dẹp hết xứ quân gom một mối,
Quê hương thịnh trị nước bình yên.

Yên dân xây dựng đẹp quê hương,
Khuyến khích toàn dân phải quật cường.
Dẹp giặc Bắc Phương yên đất nước,
Diệt thù Nam Ngạn vững biên cương.
Tài cao dựng nghiệp khôn người sánh,
Chí lớn xưng Vương khó kẻ nhường.
Thánh địa Hoa Lư còn dấu tích,
Đinh Tiên Hoàng Đế rạng muôn phưong.
TRƯỜNG GIANG

ĐIÊN ĐẢO

Thời nay không thiếu mẫu người điên,
Lắm kẻ ưa điên chỉ vị tiền.
Gây nghĩa,dựng nhân thì biếng nhác,
Mua quan, bán tước lại triền miên.
Mắng cha,chửi mẹ không ân hận,
Chém bạn,đâm thầy chẳng nể kiêng.
Đảo lộn cương thường chôn đạo lý,
Bao giờ hoa Đức nở đầy hiên?

Hoa nở đầy hiên cảnh thái bình,
Cội nguồn văn hóa mới hồi sinh.
Trai hiền tiết tháo nòi cương trực,
Gái đảm trung trinh giống nghĩa tình.
Khoa học khắp nơi đều chói lọi,
Văn chương mọi chốn thảy quang vinh.
Dân yêu tín nghĩa,thương liêm sỉ,
Hoàn vũ lừng danh nước Việt mình.
TRƯỜNG GIANG


DÂY OAN NGHIỆT

Giả nhân, giả nghĩa rặt gian manh,
Dấu mặt Sa Tăng phải trá hình.
Lũ bịp nhân quần, loài quỷ sứ,
Bọn lừa xã hội, giống yêu tinh.
Tham quyền đành dạ chôn liêm sỉ,
Hám lợi cam tâm lấp nghĩa tình.
Lưu xú vạn niên vì phản bội,
Chính tâm thiên cổ vẫn lưu danh.

Chính tâm thiên cổ với thời gian,
Phải giữ công minh chớ nói càn.
Nẻo chính tôn thờ dù trải mật,
Đường ngay phụng tự dẫu phơi gan.
Một lời chính khí thân không nát,
Hai chữ trung kiên xác chẳng tàn.
Cái miếng đỉnh chung là miếng nhục,
Hay gì chuốc lấy sợi dây oan!!
TRƯỜNG GIANG


ĐẤT KHÁCH QUÊ NGƯỜI

Lìa Tổ-Quốc, tha phương đất khách,
Vẫn hướng về thành - quách biên - cương.
Kể từ lướt sóng đại - dương,
Kình ngư hăm dọa, giặc thường bủa vây.
Ý đã quyết không thay ước hẹn,
Giữ lòng trung sau chén ly bôi.
Cộng nô phá nát giống nòi,
Thị thành xơ xác, núi đồi tan hoang.
Dân cả nước kinh hoàng chạy trốn,
Vạn hiểm nguy khốn đốn ngày đêm.
Dân đang hạnh phúc ấm êm,
Chúng gieo thảm họa, chất thêm hận thù.
Lũ qủy sứ đui mù bất chánh,
Bỏ luân thường xa lánh sử kinh.
Buôn non Độc Lập, Hòa Bình,
Khiến xương lấp núi, máu dềnh ngập sông.
Khắp thành thị, ruộng đồng oán ghét,
Chờ thời cơ phán xét nghiêm minh.
Gío gieo, bão gặt rành rành,
Tự nghìn xưa luật Thiên Đình chí công.
Nòi Lạc Việt cùm gông phá vỡ,
Cuốn Sử vàng rờ rỡ nghìn trang.
Trần gian chi khác Thiên Đàng,
Thế cờ quyết hẳn bốn phương đổi màu.
Lũ Việt Cộng bấy lâu phản bội,
Phải gục đầu nhận tội giết dân.
Diệt tan bè lũ vô thần,
Để cho dứt họa vô luân Hoàng Sào.
Bảy mươi hai triệu đồng bào,
Xiết vòng tay chặt, cất cao lời thề.
Giải trừ chủ - nghĩa Mác Lê,
Để nòi Việt hết trăm bề khổ đau./ .
TRƯỜNG GIANG.


ĐẢNG RUỒI BÂU

Sử xanh còn mãi đến nghìn sau
Ghi tội vong nô, lũ hoạt đầu
Hám bạc buôn dân, phường mặt ngựa
Tham vàng bán nước, lũ đầu trâu
Chủ nhân rón rén ngơi nền đất,
Đầy tớ nghênh ngang ngủ phố lầu
Tị nạn đồng hương ai xót nước?
Thét gầm vạch tội Đảng ruồi bâu

Tội Đảng ruồi bâu phải diệt trừ
Để không di hoạ đến nghìn thu
Tập đoàn quỷ sứ gây oan nghiệt
Hệ thống sa tăng tạo oán thù
Bóp cổ toàn dân, giam Kẻ Sĩ
Đè đầu cả nước, nhốt Thầy Tu
Hồn thiêng sông núi đang gầm thét
Quyết chẳng dung tha lũ chột mù

TRƯỜNG GIANG

ĐẢNG ĐUI MÙ

Bọn giặc Cộng mưu đồ bám ghế,
Giở đủ trò lập kế lừa dân.
Năm Châu, bốn Bể xa gần,
Đã từng mắc lỡm một lần lạ thay!
Miền Nam kể từ ngày đổi chủ,
Đã trở thành dưa khú, thịt ôi.
Phồn vinh mất sạch cả rồi,
Thị thành xơ xác, núi đồi tan hoang.
Công thương nghiệp mở mang xuống dốc,
Việc nông tang thảm khốc tiêu tan.
CHỦ NHÂN khoai sắn bần hàn,
Cao lương ĐẦY TỚ nhảy bàn độc ăn.
Hệ thống ” đảng “ thâm căn cú đế,
Gốc bật rồi hồ dễ lá xanh,
Vội vàng đổi mới cho nhanh,
Hiện nguyên hình vẫn là anh thợ cầy.
Bao kế hoạch đổi thay, thay đổi,
Vẫn loay hoay gỡ rối bó tơ,
Ngồi trên đống lửa đợi chờ,
Đầu treo sợi tóc từng giờ lo âu.
Thế mà lũ đầu trâu, mặt ngựa,
Vãn gây ra chan chứa khổ đau.
Bao năm cưỡi cổ, đè đầu,
Bắt dân hứng chịu cơ cầu khổ sai.
Chẳng cần để vào tai lẽ phải,
Vẫn gây điều oan trái, ác ôn.
Tự do, hạnh phúc đem chôn,
Giập vùi dân chủ, suy tôn độc tài.
Nay chúng lại tính bài hòa giải,
Để dối lừa, bách hại như xưa.
Lòng dân sôi sục căm thù,
Sóng ngầm chỉ đợi thời cơ lật thuyền.
Nếu khôn đừng tính hão huyền,
Mau mau tỉnh ngộ trả quyền cho dân.
Lời xưa vạn đại vi dân,
Nhất thời quan, chỉ một lần vi quan.
Chớ nên bỏ lỡ thời gian,
Kẻo thân danh phải nát tan giập vùi.
Đừng giả bộ đui
5/1997 TRƯỜNG GIANG


DÂN VI QÚY.

Ý dân là ý của Trời,
Khi dân đã muốn thi Trời khó ngăn.
Vua Quan ngôi vị còn phân,
Thứ dân áo vải mình trần hiên ngang.
Có dân mới có xóm làng,
Không dân hết cả họ hàng, anh em.
Quan quyền xoay xở lem nhem,
Là dân hài tội, chẳng thèm phân bua.
Ai ham chín thắng, một thua,
Sờ tay lên gáy, kẻo mua hận lòng.
Trường đời lắm truyện bất công,
Đổ lên đầu giới công, nông hiền lành.
Bày mưu, tính kế gian manh,
Tham lam, bè phái tranh giành hơn thua.
Đặt điều, bịa truyện cay chua,
Chôn tình, lấp nghĩa a dua hại người..
Đem thau đổi lấy vàng mười,
Lọc lừa chỉ một, tiếng cười nghìn sau.
Vì tiền muối mặt hại nhau,
Buôn điều đạo nghĩa, bán câu nhân tình.
Muốn cho cuộc sống thanh bình,
Phải nên tương kính hòa mình với nhau.
Xưa nay một ngựa ốm đau,
Cả tầu chê cỏ, chung sầu truân truyên.
Dân là nước chở tàu, thuyền,
Hiếp dân, dân sẽ thường xuyên lật tàu.
Xưa nay tục ngữ có câu,
Hại dân thì chịu khổ đau nghìn đời.
Dân từng mật trải, gan phơi,
Làm nên sự nghiệp muôn đời ghi công.
Hy sinh bảo vệ non sông,
Thiếu dân là cả giống giòng tiêu tan.
Thương dân thì được an nhàn,
Khinh dân ắt chịu muôn vàn đắng cay.

1299 TRƯỜNG GIANG

DẶN LÒNG

Chẳng quý gì hơn việc tốt lành
Tu tâm, dưỡng tính ắt trường sanh
Công môn luồn cúi càng thêm nhục
Quyền lợi bon chen ắt bớt vinh
Gần miếng đỉnh chung thì khiếm đức
Xa vòng kiềm tỏa mới tồn danh
Ngũ thường khuôn ngọc ngời kim cô
ĐỨC TỰ DUY HINH gắng tạo thành

Thành người phẩm chất mãi thanh cao
Cái bả công danh chớ nhảy vào
Bao kẻ tan thây vì giáo mác
Nhiều người nát xác bởi gươm đao
Trương Lương bỏ lợi lòng thanh thản
Hàn Tín ham danh hoạ buộc vào
Tầy liếp gương xưa còn trước mắt
Sát thê cầu tướng vẫn rêu rao
TRƯỜNG GIANG

BÀI HỌA
Bố đức, thi ân tạo nghiệp lành,
Hoa thần, đất phước thiện duyên sanh.
Quyền môn hưng phế vòng vinh nhục,
Hoạn hải thăng trầm nẻo họa danh.
Ám nhãn ứng tài, tài ứng trược,
Khai tâm điểm đạo, đạo cầu thanh.
Hiếu trung, nhân nghĩa siêng bồi đắp,
Hưởng phẩm linh tiêu buổi đại thành.
HÀ BỬU PHÁT (CT))

24.1.08

BÊN SONG NHỚ THI NHÂN

(Khi ngồi trong Phòng Khách tại nhà con gái
(ở Vancouver, Canada) nhìn tuyết rơi bên ngoài,
nhớ Thi Huynh Hà Thượng Nhân nên sáng tác bài này)


X1/4- Dặm nghìn cách trở nhớ tôn ông,
Nhân dạng nghiêm trang, đẹp lạ lùng.
Đi đứng khoan thai, lời chính trực,
Nói năng hòa nhã, tính bao dung.
Nhìn dân khổ lụy, lòng buồn bã,
Thấy nước suy vi, dạ não nùng.
Chín chục tuổi trời còn sáng tác,
Thơ văn khảng khái khắp Tây Đông.

X2/4- Đông Tây thi phú tiếng đồn vang,
Tô điểm quê hương, đẹp xóm làng.
Lấy nghĩa giao du nơi thị tứ,
Đem tình đoàn kết chốn lân bang.
Cho dù sơ ngộ không vồ vập,
Dẫu đã thâm giao chẳng sỗ sàng.
Tải đạo luôn coi như lẽ sống,
An bần trân quý chữ trung cang.

X3/4- Cang cường bản chất bậc anh hào,
Thiên hạ bao người vẫn ước ao.
Trọng gái anh thư tình gắn bó,
Quý trai tuấn kiệt nghĩa thâm giao.
Nghìn năm còn nhớ thanh trường kiếm (1)
Vạn đại không quên áo cẩm bào (2)
Đáy dạ trung thành cùng đất nước,
Muôn sau Việt tộc mãi thanh cao.

X4/4- Cao trọng nào hơn tính nhún nhường,
Trong ngoài, trên dưới mọi người thương.
Cầu mong xứ sở luôn trù mật,
Ao ước quê hương mãi phú cường.
Đất Tổ hoàn toàn Miền Hải đảo,
Quê Cha trọn vẹn chốn Biên cương.
Một lòng trân quý hồn dân tộc,
Ghi nhớ không gây cảnh đoạn trường.

CANADA 9/8/2005 TRƯỜNG GIANG

GHI CHÚ : (1) Đức Thánh Trần Hưng Đạo dùng
Trường kiếm diệt giặc Nguyên Mông.
(2) Vì có lòng Nhân, Vua Lê Thánh Tôn đã cởi áo bào
đắp lên người một cụ già bị rét cóng ngoài đường lộ.

BÀI HỌA

H1/4- Nhà tôi, cũng nhớ cũng thương ông,
Sắp hết năm mưa gió lạnh lùng.
Đã thấy gần xa lời bóng gió,
Mà sao đi đứng vẫn ung dung.
Lọc lừa như họ, mà chung thủy !
Chân giả riêng ta hiểu đạm nùng
Trên đất tạm dung nay gặp lại,
Phương Tây tha thiết chuyện phương Đông

H2/4- Bốn phương thơ bác đã lừng vang,
Miếng thịt thêm to ở giữa làng.
Xa lộ nối liền muôn thị trấn,
Thi ca nghe dội khắp liên bang.
Làng thơ bác vốn càng chu tất,
Vần họa tôi xin rất sẵn sàng.
Xin chúc cho nhau vui mãi mãi,
Tuy nhu ta vẫn cứ nên cang

H3/4- Nhu đấy mà là vẫn cứ hào,
Vẻ gì rầy ước lại mai ao.
Thấy người tiết nghĩa mong liên kết,
Gặp kẻ tài hoa muốn kết giao.
Muôn trước từng khoe thanh kiếm báu,
Nghìn sau còn lại tấm kim bào.
Muốn lo việc lớn trong thiên hạ,
Lòng phải kiên mà chí phải cao.

H4/4- Cao gì hơn nữa đức khiêm nhường,
Khiến kẻ xung quanh phải mến thưong.
Dẫu muốn nhu nhưng đừng có nhược,
Đã đành cương nhưng phải nên cường
Lòng nhiều đức độ, còn cần dũng,
Tâm sẵn nhân từ, vẫn phải cương.
Mới biết tùy nghi mà ứng dụng,
Chao ôi ! địa cửu với thiên trường.
22-01-2007 HÀ THƯỢNG NHÂN

22.1.08

VÙNG LÊN CỨU N Ư ỚC

BÀI XƯỚNG:

1/2- Vùng Lên cứu nước Việt-Nam ta,
Tổ Quốc thân yêu của mọi nhà!
Đông Hải, Hoàng-Sa: bầu sửa Mẹ;
Trường-Sa, Bản Dốc: máu tim Cha.
Rừng vàng, biển bạc dòng "Hồng Tộc",
Gấm vóc, lụa là giống "Lạc Gia".
Nhất chí toàn dân cùng đứng dậy;
Diệt tan Đảng cướp cẩu Trung Hoa.

2/2- Diệt tan Đảng cướp cẩu Trung Hoa,
Kiến thiết Quê Hương, dựng lại nhà:
Chính thể Cộng Hòa nền Độc Lập,
Tam quyền Hiến Pháp nếp Phong Gia.
Tự Do, trí thức dâng mưu đủ,
Dân Chủ, sinh viên hiến kế đa.
Già trẻ, gái trai gom ý chí;
Chung tay phát triển nước Nam ta!!!
Joseph Duy-Tâm
12-12-2007

BÀI HỌA
1/2- Vùng dậy thanh niên ! Cứu nước ta !!
Thân yêu Tổ Quốc của muôn nhà.
Trường Sa hải đảo, xương da Mẹ,
Bản Dốc biên cương, máu thịt Cha.
Biển bạc, tài nguyên nhờ kỹ nghệ,
Rừng vàng, hầm mỏ cậy chuyên gia.
Toàn dân đoàn kết xoay thời cuộc,
Nhân chủ mai này phải nở hoa…

2/2- Nhân chủ mai này phải nở hoa,
Gái trai cương quyết giữ quê nhà.
Lấy tài Hưng Đạo xây Dân Tộc,
Dùng trí Lê Vương dựng Quốc Gia.
Nước mạnh khắp nơi tôn Ngũ Phúc,
Dân giàu mọi chốn trọng Tam Đa.
Ghé vai chung sức không lùi bước,
Quyết diệt xâm lăng cướp nước ta.

16-12-07 TRƯỜNG GIANG



VẪN TÔN XƯNG

Hoan hô Thiếu Tướng Lê Văn Hưng,
Một thác năm Châu tiếng lẫy lừng.
Mất nước đó đây đều chịu khổ,
Soi gương con cháu lại riêng mừng.
Đầu thai cửa Phật vui chưa nhỉ ?
Phát súng lên Tiên đẹp quá chừng.
Hậu thế nhắc hoài trang tiết liệt,
Muôn sau đất nước vẫn tôn xưng.

10/4/2004 HUỆ THU

BÀI HỌA

Lịch sử nghìn sau phục tướng Hưng,
Năm Châu, bốn Bể tiếng vang lừng.
Kinh hoàng Quảng Trị toàn dân khổ,
Anh dũng Bình Long cả nước mừng.
Thành mất gái trai đau quá đỗi,
Đồn tan già trẻ uất vô chừng.
Hiến dâng thân xác cho Dân tộc,
Để lại muôn đời tiếng biệt xưng.

1042004 TRƯỜNG GIANG

TƯỞNG NIỆM TRƯNG NỮ VƯƠNG

1/2- Toàn quốc cung nghinh vọng nhị Trưng,
Hồn thiêng sông núi cũng rưng rưng.
Phong ba dòng Hát vang từng chốn,
Gươm giáo Mê Linh dội khắp vùng.
Thánh đức kinh hồn quân bạo ngược,
Thần uy táng đởm giặc tàn hung.
Ô danh Tô Định phường xâm lược,
Muôn thuở Anh Thư tiếng lẫy lừng.

2/2- Lẫy lừng kim cổ nhị Trưng Vương,
Chí ngút từng xanh khó thể lường.
Đất Tổ giữ gìn vùng Hải đảo,
Quê Cha bảo vệ giải Biên cương.
Diệt tên Tô Định không cam nhịn,
Đuổi gã Phục Ba, há chịu nhường.
Lãng Bạc, Mê Linh ngời chính khí,
Nghìn sau con cháu vẫn noi gương.

TRƯỜNG GIANG


TRÂU ĐỰC TÂM TÌNH.

Vì đời gian khổ xá chi thân,
Thóc gạo tràn kho Mỗ (1) góp phần.
Chẳng quản nắng mưa vì quý nước (2) ,
Không nề sương gíó bởi yêu dân.
Thương người lỡ vận thêm no ấm,
Giúp kẻ sa cơ bớt nợ nần.
Trọn kiếp nhọc nhằn không phí sức,
Lúa vàng thu hoạch chất đầy sân.

Sân trước, vườn sau lúa chật quầy,
Là nhờ công sức của ai đây?
Mưa tuôn xối xả không chùn bước,
Nắng cháy xiên khoai vẫn kéo cầy.
Trước mắt kệ thây con trạch lủi (3) ,
Ngoài tai mặc xác cái ong bay(4) .
Lo cho thiên hạ đều no ấm,
Chi xá đầu lươn lấm tối ngày .


TRƯỜNG GIANG

GHI CHÚ :
1- Tiếng Đại Danh Từ người thôn quê Miền BắcViệt Nam xưa thường dùng
2- Trâu là loài gia súc râtq thích ngâm mình dưới nước.
3- Trâu là giống gia cầm rất cần cù,không trốn tránh công viêc 5
4- Gác bỏ ngoài tai tiếng khen che của người đời.


8 HÀO KIỆT ĐẤT PHƯƠNG NAM

Cảm xúc khi nhìn bức hình 8 sinh viên trong nước đứng biều tình ôn hoà trước Nhà Hát Sàigòn, nơi đã từng là biểu tượng cho sức mạnh toàn dân Miền Nam Việt nam ( Quốc Hội/VNCH )

Tám người hào kiệt đất phương Nam
Ngẩng mặt xông lên đứng một hàng
Thách đố bạo quyền loài khiếp nhược
Chẳng sờn ác đảng vẫn hiên ngang
Hoàng sa là máu xương nòi giống
Hải đảo mất rồi đứt ruột gan
Yêu nước hởi ai cùng huyết thống
Đứng lên hỏi tội lũ tham tàn
Trần Việt Yên 21- -1 -2008

BÀI HỌA
Khí tiết sung thiên, Nam Việt Nam,
Chống quân cướp nước, quyết không hàng.
Chẳng sờn chuyên chính phường nhìn ngược,
Há sợ độc tài, lũ ngó ngang
.Bản Dốc còn đâu, sầu tím ruột,
Trường Sa mất cả, hận bầm gan.
Hùng Vương Quốc Tổ đang kêu réo,
Cả nước vùng lên chống bạo tàn !!!…
21-01-2007 TRƯỜNG GIANG

17.1.08

THẦN HỔ

Trời sinh vóc dáng thật uy nghi,
Chúa Tể sơn lâm mấy kẻ bì.
Ban sáng hươu nai về bái kiến,
Buổi chiều chồn cáo đến triều quy.
Beo dù lớn xác đều kinh sợ,
Voi dẫu to con thẩy nể vì.
Lừng lẫy rừng xanh từ tấm bé,
Tiếng gầm vang dội mỗi khi đi.
10/2003 TRƯỜNG GIANG

HỌA THẦN HỔ 1

Danh vang mấy kẻ dám hồ nghi,
Mãnh hổ oai phong thật khó bì.
Cầy cáo nép mình khi xuất phát,
Hươu nai trốn chạy lúc hồi quy.
Nghe hơi thoảng đến là kinh hãi,
Thấy bóng băng qua phải nể vì.
Hùng cứ giang sơn riêng một cõi,
Đường hoàng khi đứng cũng như đi.
11- 11--2003 TỪ PHONG

HỌA THẦN HỔ 2
HỔ THẦN (*)

Tháng Mười Một bác gửi cho tôi,
“Thần Hổ” bài thơ, khiến máu sôi :
Nước mất rõ lòng loài phản trắc,
Nhà tan biết mặt bọn chồn lùi !

1- Hổ thần thuở trước rất oai nghi,
Cái vỏ khó ai có thể bì.
Sáng sáng, trưa trưa ồn yết kiến,
Chiều chiều, tối tối loạn quân quy. (1)
Bạn bè, lối xóm ngại ngùng sợ,
Cấp dưới, bà con ngán ngẩm vì.
Quốc biến mới hay tài trí bé,
Thập thò toan tính trốn, nhào đi !
* * ***************************
Hổ thần, thần hổ cần xem lại,
Tiến chức, thăng quan liệu ích gì ?!
6-11-2003 HOÀNG NGỌC VĂN

(*) Hổ ngươi thay phường ăn hại, đái nát
(1) Mồm thì phẩm bình quy luật Quốc Gia,
lòng dạ, chân tay thì phá nát xã tắc sơn hà,
cúi đầu phản trắc, phản chủ để kiếm đô la.

HỌA THẦN HỔ 3
BIẾT NGƯỜI LIỆU SỨC

Vào đời cẩn trọng, phải tùy nghi,
Vẽ cọp không xong, dẫu vẽ bì.
Giàu có muôn chung còn khánh tận,
Quyền uy trăm cõi vẫn hồi qui.
Tài năng chậm tiến là do bởi...
Chí khí dần lui cũng tại vì...
Mơ mộng chớ nuôi thành ảo vọng,
Biết người tiến thoái lúc ra đi...

HỌA THẦN HỔ 4
CỌP HẾT THỜI
Thuở nào gầm thét rất oai nghi,
Gặp phải thợ săn, bị lột bì.
Móng vuốt vẫy vùng khi bẫy sập,
Răng nanh chơm chởm lúc hồn quy.
Dọc ngang đâu ngỡ tàn như thế,
Lừng lẫy nào hay chết cũng vì.
Hữu dõng vô mưu thường thất bại,
Biết đường tiến thoái lúc ra đi...

HỌA THẦN HỔ 5
MA TRÀNH THUẬN NGHỊCH VẬN

1- Để cho thiên hạ chẳng hồ nghi,
Miệng lưỡi trơn tru khó sánh bì.
Sách động khắp nơi theo kế hoạch,
Chui luồn mọi chỗ phá môn quy.
Giặc vào hớn hở khoe công trạng,
Quỷ đến xun xoe kiếm chức vì.
Tổ quốc tang thương, không đếm xỉa,
Máu xương đồng loại dẫm lên đi...

2- Từ ngày mất nước phải ra đi,
Khốn nạn, vong gia cũng bởi vì.
Uất hận độc tài, người vận động,
Giả vờ nhân đạo, chúng vinh quy.
Tới lui đóng kịch, mồm luôn ngọt,
Qua lại làm gương, mặt cứ bì.
Cái thứ ma trành nguy hiểm lắm,
Chui sâu núp kỹ, khó tình nghi !
11-11-03 THIÊN TÂM
(*) Bóng vía, oai phong của Cọp

HỌA THẦN HỔ 6
GỬI BÁC THỢ SĂN
Nghe săn được cọp tớ hồ nghi,
Bèn chạy qua xem bác lột bì.
Mổ bụng lóc xương hầm đỗ trọng,
Moi gan , móc mật tẩm đương quy.
Nhân sâm, Cẩu kỷ thêm cho đủ,
Tráng thận, cường dương mới thấm vì.
Đại bổ thập toàn tôi bác nhậu,
Chén thù, chén tạc ngả nghiêng đi
11/11/2003 ĐÔNG THIÊN TRIẾT

HỌA HỔ THẦN 7
NHẬU THỊT CỌP

Bác Triết nầy sao quá tiện nghi,
Nhưng tôi vớ bở chẳng so bì.
Công lao bắt cọp mừng chưa phỉ,
Xương cốt hầm cao oán đã quy.
Tráng thận thịt kia xơi khoái bởi...
Cường dương rượu ấy nốc ngon vì...
No nê đại bổ nhờ ơn Cụ,
Tiếp tục tạc thù thỏa thích đi...
12-11-03 THIÊN TÂM

HỌA THẦN HỔ 8
ĐƯỜNG SAO HÓC HIỂM

Ở đời chỉ xét đến dung nghi
Chồn cáo làm sao có thể bì
Ruỗi vó anh hùng khi xáp trận
Uốn mình thiếu nữ lúc vu quy
Đường mòn mỏi gối là do bởi ...
Hang cọp khoanh tay chỉ tại vì ...
Thơ khó kiểu này xin vái lạy
Đường sao hóc hiểm dễ gì đi ...
HUỆ THU

ĐÀN LẠI NGANG CUNG

(Kính tâng Thi Lão Hà Thựơng Nhân)

Tôi với Ông có duyên văn nghệ,
Mến thương nhau như thể anh em.
Vốn Ông cương trực thanh liêm,
Không ưa xu nịnh, chẳng thèm lợi danh.
Trong cuộc sống đua tranh khôn dại,
Biết bao người ám hại lẫn nhau.
Dẫy đầy tủi nhục, khổ đau,
Buôn quan, bán tước trước sau vô vàn.
Là Thi Sĩ với ngàn ý đẹp,
Rút tơ lòng Ông dệt thành thơ.
Đàn ngang cung, Báo TỰ DO.
Dùng thơ Ông nói nhỏ to với đời.
Bằng tim óc viết lời tâm huyết,
Nên thơ Ông trác tuyệt hơn người.
Từng câu sắc bén tuyệt vời,
Như roi vun vút quất loài gian tham.
Người xuôi ngược vì ham thú sống,
Ông làm thơ để chống bất công.
Những mong Tổ Quốc non sông,
Ba Miền gồm Bắc Nam Trung hợp quần.
Công nhường ấy xa gần ghi nhớ,
Chốn Văn đàn rờ rỡ nét son.
Dù cho sông cạn đá mòn,
Hà Quân muôn thuở vẫn còn thi ca,
Thế chiến lược Người ta sắp trước,
Hóa cho nên Ông được vào tù !!!
Nhìn Ông tôi những ngẩn ngơ,
Ai dè lại gặp nhà Thơ chốn này.
Trăm thống khổ, đắng cay cùng trải,
Vạn dau buồn khổ ải có nhau.
Ông nay đã bạc mái đầu,
Tóc tôi giờ cũng ngả màu hoa râm.
Trong lao lý tuy nằm khác chỗ,
Tôi luôn luôn ngưỡng mộ tài Ông.
Lòng riêng riêng những ước mong,
Được nghe tác phẩm của Ông trong tù.
Khi Cộng Sản đui mù tan rã,
Ngày hội thơ khắp ngả trùng phùng.
Bấy giờ Đàn lại ngang cung,
Khắp nơi hưởng ứng họa từng ý thơ.
Hương sen không sợ bùn nhơ,
Chỉ tên, vạch mặt tên Hồ Chí Minh.
Hú hồn Dân Tộc anh linh,
Phù cho nưóc Tổ thanh bình ấm no.
Thơ Ông còn sẵn hàng kho,
Tặng cho những kẻ qua đò quên sông...
Trại tù Cải Tạo SUỐI MÁU
BIÊN HÒA 1976
TRƯỜNG GIANG

BÀI HỌA 1
(Bài thơ ĐÀN LẠI NGANG CUNG được sáng tác để tặng
Thi Sĩ Hà Thượng Nhân. Nhưng 26 năm sau (tháng 9 năm
2002) khi soạn lại các bài thơ cu,tôi mới xin Cụ Hà cho
bài họa này để giữ làm kỷ niệm)

Tôi vốn kém về môn võ nghệ,
Trong nhà binh cũng thể đàn em.
Đọc câu mộ quyển châu liêm,
Họ Vương thật quả đâu thèm cái danh.
Nghe Cộng Sản đấu tranh là dại,
Chỉ đêm ngày tìm hại lẫn nhau.
Làm cho kẻ khác buồn đau,
Bất nhân, bất nghĩa trước sau muôn vàn.
Trời đã phú muôn ngàn cảnh đẹp,
Tưởng cứ đem ra dệt nên thơ.
Tưởng vì Dân chủ, Tự do,
Hóa ra chỉ cốt làm to ở đời.
Truyền đơn viết lời lời tâm huyết,
Hồ đang tâm đoạn tuyệt tình người.
Bao nhiêu lý thuyết xa vời,
Rút vào ôi chỉ một loài gian tham.
Sống như thế mà ham được sống,
Tội dường kia đòi chống bất công.
Lại đòi Tổ Quốc, Non Sông,
Lại đòi Nam Bắc và Trung quây quần.
Dân ở khắp xa gần đều nhớ,
Chữ sơn hà rực rỡ tô son.
Chặt rừng, núi cũng bạt mòn,
Tội Hồ dường ấy mà còn đem ca.
Bảy mươi triệu dân là sau trước,
Ngoài hay trong đều được ở tù.
Nhìn nhau ta những ngẩn ngơ,
Đâu văn, đâu nữa là thơ lúc này.
Người trí thức đắng cay đã trải,
Công nông càng đầy ải hơn nhau.
Lẽ nào cúi mặt, gục đầu,
Tóc kia mới đó, đổi màu hoa râm.
Lăng Ba Đình dọn nằm một chỗ,
Ai thèm vào thăm mộ của ông ?
Toàn dân ngày nguyện, đêm mong,
Chết rồi cũng phải cho ông ở tù.
Trời đã sáng mây mù tan rã,
Đồng bào ta muôn ngả trùng phùng.
Từ nay dẹp bỏ đao cung,
Rót ly trà đậm, lựa từng câu thơ.
Đem thân vầy chốn bùn nhơ,
Thế mà ái quốc hở Hồ Chí Minh ??
Cầu xin Tiên Tổ hiển linh,
Giúp con cháu dựng thanh bình ấm no.
Của trời trăng gió một kho,
Đêm trăng lại thả con đò trên sông.
21/09/2002 HÀ THƯỢNG NHÂN

BÀI HOA 2
LỖI MỘT CUNG ĐÀN
Họa vận bài "Đàn Lại Ngang Cung"
của Thi Sĩ Trường Giang

Đời binh nghiệp, bỗng thành vô nghệ,
Tan hàng rồi, Xếp kệ đàn em.
Đoái chi Trung, Nghĩa, Dũng, Liêm,
Mải lo cuộc sống, đâu hiềm tổn danh.
Bị mất nước, khôn thành kẻ dại,
Cảnh lao tù thảm hại như nhau.
Nỗi niềm càng nghĩ càng đau,
Ván cờ thế giới hiểm sâu muôn vàn.
Dù tưởng tượng muôn ngàn cảnh đẹp,
Nỗi u hoài khó chép nên thơ.
Phải đây Hạnh Phúc, Tự Do ?
Phải đây Độc Lập ? Hồ lo cho đời ?
Không "phún nhân" chẳng thời "hàm huyết"
Chẳng nói hơn, nói thiệt cho người.
Cũng không thêm thắt vẽ vời,
Rõ ràng Việt cộng bọn người gian tham.
Dùng thủ đoạn để làm sức sống,
Mỵ lừa dân phát động tấn công.
Bắt dân xẻ núi đào sông,
Chiêu bài giải phóng vì mong hợp quần.
Lời đường mật toàn dân vẫn nhớ,
Một tương lai rực rỡ vàng son.
Trăm năm bia đá thì mòn,
Nghìn năm tội cộng dân còn thán ca.
Miền Bắc cảnh xót xa chịu trước,
Miền Nam sau tiếp bước tội tù.
Đoạn trường hồ dễ làm ngơ,
Ghi trong ký ức bài thơ cảnh này.
Bao uất hận đắng cay từng trải,
Người với người đày ải lẫn nhau.
Trả thù Việt cộng bắt đầu,
Thế cô đành chỉ nguyện cầu lâm râm.
Trại cải tạo giam cầm khắp chỗ,
Con nít ranh cán ngố nên ông.
Vợ con ngày tháng chờ mong,
Thương Chồng, Cha mấy Thu Đông trong tù.
Chỉ mong muốn kẻ thù sớm rã,
Để mọi người thỏa dạ tương phùng.
Qua thời chinh chiến kiếm cung,
Bạn bè đối ẩm lại cùng làm thơ.
Vạch ra tội lỗi nhớp nhơ,
Của tên ác tặc là Hồ Chí Minh.
Hồn thiêng Quốc Tổ chí linh,
Độ trì dân Việt Nam mình ấm no.
Nông dân lúa gạo đầy kho,
Thanh bình lại rộn tiếng hò sang sông .
TỪ PHONG




DẶN DÒ

(Tặng các con thân yêu )

1/3- Đôi trời, đạp đất ở trên đời,
Có chí thì nên há phải chơi.
Kinh sử dùi mài đừng biếng nhác,
Sách đèn luyện tập chớ buông lơi.
Văn chương muôn thủa luôn tươi đẹp,
Khoa học nghìn năm vẫn sáng ngời.
Có chí thì nên danh phận cả,
Lẫy lừng vang dội vạn trùng khơi.

2/3- Con ơi ráng học lúc đầu xanh,
Cây nhỏ không vin, cả gẫy cành.
Khoa học chuyên cần luôn sáu khắc,
Văn chương rèn luyện suốt năm canh.
Đẹp lòng Cha Mẹ khi thành đạt,
Hả dạ Ông Bà lúc hiển vinh.
Muốn được tiếng thơm lưu hậu thế,
Con ơi ráng học lúc đầu xanh.

3/3- Giữ lấy con ơi, chữ tín thành,
Nếp nhà bảo vệ chữ thanh danh.
Nhất ngôn ký xuất nên suy gẫm,
Tứ mã nan truy phải thực hành.
Tích cũ chói loà nhiều tuấn kiệt,
Truyện xưa vang dội lắm công khanh.
Lẽ thường hổ chết da còn để,
Người muốn cao sang phải sửa mình.

HOA BÀI 3
HOC đạo tôn nghiêm chữ tín thành,
Bởi vì điểm thể hữu trường danh.
Kim ngôn chỉ hướng năng cầu tiến,
Ngọc ý soi phương tiếp vận hành.
Chọn nghĩa thật tình ân đức trọng,
Lựa lời cho hợp nghĩa hiền khanh.
Quản bao thế sự thăng trầm đổi,
Vẹn vẻ tinh nguyên nghiệm xét mình.
THIÊN NHIÊN HUỆ
********************************************

ĐÀ LẠT XỨ MỘNG MƠ

1/4- Đà Lạt vang danh xứ mộng mơ,
Trai thanh, gái lịch vẫn mong chờ.
Thăm Hồ Than Thở bày mâm rượu,
Viếng Thác Cam Ly giở cuộc cờ.
Thung lũng tình yêu bao mộng đẹp,
Đồi thông hai mộ lắm duyên thơ.
Sương mù bao phủ che màu tục,
Rõ cảnh thần tiên há phải ngờ ?

2/4- Ngờ làm sao được cảnh thần tiên,
Đến ngắm Xuân Hương dứt não phiền.
Đà Lạt sản sinh nhiều tuấn kiệt,
Lâm Đồng đào tạo lắm thuyền quyên.
HoàngTriều Cương Thổ vang năm Cõi,
Thượng Uyển Hoa Viên dội bốn Miền.
Còn xứ nào hơn Đà Lạt nữa !
Bích đào khoe sắc phủ thiên nhiên.

3/4- Đà Lạt lừng danh khắp mọi Miền,
Người người thanh lịch, cảnh thần tiên.
Mười phương mặc khách lên thăm viếng,
Tám hướng tao nhân đến giải phiền.
Kìa Thác Cam Ly reo bất tận,
Này Hồ Than Thở lặng triền miên.
Đồi thông hai mộ hương tình sử,
Thượng Uyển muôn hoa sắc dịu hiền.

4/4- Dịu hiền như bức họa thiên nhiên
Gái lịch, trai thanh dạo khắp miền.
Phong cảnh hữu tình, anh trượt nước,
Núi non hùng vĩ, chị bơi thuyền.
Hồi chuông Bát Nhã vang Miền Phật,
Tiếng mõ Tam Quy động Cõi Tiên.
Tài tử, giai nhân về hội ngộ,
Lâm Viên trút sạch mọi ưu phiền.
TRƯỜNG GIANG
********************************************

ĐẠI HỌA

Giải phóng đem dân tắm máu hồng
Dối lừa gây họa khắp non sông
Vùi sâu Giềng mối nòi Viêm Việt
Chôn chặt Gia quy giống Lạc Hồng
Gíá họa đê hèn giam Giáo sĩ
Vu oan trắng trợn nhốt Sư Ông
Bịt mồm cả nước bằng chuyên chính
Miệng lưỡi như in “đĩ đánh bồng”â

Đánh bồng lừa bịp mãi toàn dân
Cướp hết cơ ngơi, lột áo quần
Chôn kẻ thương dân, phường bất nghĩa
Giết người yêu nước, lũ phi nhân
Gian ngoan không kém chi Tào Tháo
Ác độc còn hơn cả Bạo Tần
Cả nước chung lòng gom lửa hận
Quyết tâm thiêu rụi giống vô luân

TRUONG GIANG

ĐẠI BỊP

Ngỡ tượng tô son hóa phỗng sành,
Dối lừa đủ tứ đốm tam khoanh.
Nam Mô chót lưỡi, gươm đầy bụng,
Bồ Tát đầu môi,giáo khắp mình.
Núp bóng Phật Tiên, phường xảo quyệt,
Dựa hình Thần Thánh,bọn gian manh.
Chẫu chàng rõ nét sau mưa bão,
Bá ngọ nhà bay bịp đủ vành!!

Đủ vành lừa đảo tạo thanh danh,
Lũ quỷ,bầy ma vốn rất rành.
Đổi trắng thành đen, mưu lật lọng,
Noí xuôi là ngược, kế gian manh.
Nhìn qua những tưởng ông Tiên ngọc,
Ngó kỹ thì ra chú Phỗng sành.
Kép độc múa may tuồng vãn lớp,
Phấn son lau hết sặc mùi tanh.
TRUONG GIANG
************************************************

CÚC DỤC CÙ LAO

Mấy lời khuyên nhủ gái MINH CHÂU
Nghiã mẹ, công cha phải đội đầu
Chín tháng hoài thai ơn rất nặng
Mười năm giáo huấn nghĩa càng sâu
Cù lao chẳng quản thân mưa nắng
Cúc dục không màng phận bể dâu
Cao ngất tầng xanh gương hiếu tử
Lựa dâu Thái Thuận để riêng màu

Khi con bé bỏng mới chào đời
Kéo võng ngày đêm mẹ hụt hơi
Chỗ ướt mẹ nằm mền chẳng ấm
Nơi khô con ngủ giấc không vơi
Hai mươi năm lẻ, con đầm ấm (1)
Mười bốn năm dư mẹ rã rời
Diễm Tử giả hươu gương vạn cổ
Cù lao chín chữ há rằng chơi
TRƯỜNG GIANG

(1)Mẹ đã khổ cực nuôi dạy con trong suốt
20 năm. Cũng trong thời gian này,Bố bị
Việt Cộng giam giữ 13 năm trong các trại Tù
Cải Tạo. Mẹ vừa phải chạy gạo nuôi các con,
vừa phải nuôi Bố khỏi bị chết đói trong khi bị
giam trong tù.Công ơn này to lớn quá. Không
thể lấy bất cứ loại thước nào đê đo hoặc đấu
nào để lường được,

HỌA BÀI 2

Kể từ lúc nhỏ mới ra đời,
Những bước chập chừng những tắt hơi.
Nghĩa mẹ sinh thành không xét cạn,
Ơn cha nuôi dưỡng khó tầm vơi.
Đâu là sự sống khi dầu dãi,
Khi lắm công dày, lúc ta tơi.
Công tựa hái Sơn, công tựa hải,
Toàn nhiên luật định, há tường chơi
THIÊN NHIÊN HUỆ

CƠ TRỜI

Cơ trời mầu nhiệm há rằng chơi,
Xoay ngược thiên cơ hỏi mấy người.
Hùng hổ muốn vo tròn trái đất,
Hung hăng toan bóp méo bầu trời.
Ngược xuôi Nam Bắc không còn sức,
Ngang dọc Đông Tây cũng hết hơi..
Từ Thứ, Khổng Minh toan lấp biển,
Cam đành suối lệ hải tuôn rơi.

Suối lệ tuôn rơi cũng tại mình.
Luật trời định sẵn rất công minh.
Hạng Vương mất nước vì vô đạo,
Hán Đế còn quê bởi hưũ tình.
Bạo lực quê hương không tiến bộ,
Tự do đất nước mới phồn vinh..
Huyền vi tầy liếp gương kim cổ,
Vùng vẫy bao nhiêu chỉ sứt mình.

TRƯỜNG GIANG

*********************************************

CƠ DUYÊN

Thân tặng Anh Hà Bửu Phát, Cần Thơ

Cơ duyên hạnh ngộ bạn sành thơ
Xướng họa liên ngâm thực bất ngờ
Vần Thánh ước mong chung phím nhạc
Câu Thần trông đợi góp dây tơ
Can trường Bến Nghé trời còn thấp
Sĩ khí Tây Đô đất cũng mờ
Năm vận nối điêu nâng đạo nghĩa
Hú hồn dân tộc dứt cơn mơ

Dứt cơn mơ mộng giấc Nam Kha
Tất phải ngày đêm tính việc nhà
Đất nước hoang tàn vì khói lửa
Quê hương tan nát bởi can qua
Gia quy băng hoại, vui ma mãnh,
Quốc pháp suy vi, sướng quỷ tà.
Lựa vận nên thơ nêu chính khí
Dân tình giác ngộ được năm ba
TRƯỜNG GIANG
********************************************

CHÚA SƠN LÂM (3)

Chúa tể rừng xanh nức tiếng đồn,
Người người khiếp đảm lúc hoàng hôn.
Ngang như tượng chúa còn bay vía,
Mạnh tựa sư vương cũng bạt hồn.
Gầm xé bầu trời, vang xã hội,
Hét rung trái đất, động làng thôn.
Rừng sâu ngự trị riêng bờ cõi,
Há sợ cuồng phong, ngán sóng cồn ??

ÔNG KỄNH
Vang động không gian tiếng thét gầm,
Uy danh lừng lẫy Chúa Sơn Lâm.
Mới nhìn bóng dáng, hươu đà chạy,
Vừa ngó hình dung, sói phải nằm.
Bị gạt, gông cùm lòng uất hận,
Mắc lừa, xiềng xích dạ hằng căm.
Mai đây rừng núi về cai quản,
Thì giống sài lang phải cúi gằm.

ÔNG BA MƯƠI
Uy danh đệ nhất khắp rừng sâu,
Muông thú nơi nơi phải đứng hầu.
Chồn cáo ngó hình, đi khụyu gối,
Hươu nai thấy bóng, chạy phờ râu.
Sa cơ sừng sững, không qùy gối,
Thất thế hiên ngang, chẳng cúi đầu.
Quyết hẳn mai này khi phá cũi,
Rừng thiêng không chứa giống bò trâu.

TRUONG GIANG

HỌP BẦY

Bầy thú tranh nhau tấu mục hài,
Càng khuya chúng lếu láo càng dai.
MÈO MUN bảo CHÓ lưng tao dẻo,
KHỈ ĐỘT khoe MÈO đít tớ chai.
LƠÝN Ỷ chửi BÒ ăn lén lút,
DÊ XỒM mắng NGỰA đớp công khai.
TRÂU GIÀ đủng đỉnh lời đanh thép,
Bốc hốt nhanh lên kẻo nữa hoài.

Hoài công nghe chúng nó huênh hoang,
Toa rập cùng nhau lũ điếm đàng.
Quỷ quyệt ma đầu mưu dược quý,
Dối lừa trưởng giả học làm sang.
Giang sơn chồng chất niềm cay đắng,
Đất nước tràn lan nỗi bẽ bàng.
Thay mặt đổi hình cho khác vẻ,
Chung quy bản chất vẫn sài lang.
TRUONG GIANG

HUÊNH HOANG
Có giỏi gần xa đã tiếng đồn,
Dại ngây còn lớn giọng rằng khôn
Ngu si thích giở trò cuồng chữ
Dốt nát ưa bày thói lộng ngôn
Chẳng biết khiêm nhường theo đạo nghĩa
Lại còn ngang ngược bỏ trung ngôn
Lắng nghe lời phải mà tu dưỡng
Kẻo tiếng chê cười giống ác ôn.

Giống ác ôn kia có biết không
Hận bay cũng cá chậu chim lồng
Học LÊ sớm tối như loài cưỡng,
Tụng MÁC ngày đêm tựa giống nhòng
Quên gốc Lạc Hồng, đau đớn chửa?
Nhớ nguồn Mác Xít, thảm thê không?
Mồ cha bỏ phế không thăm viếng,
Đống mối can chi lại khóc ròng?
TRƯỜNG GIANG

HOÀI HƯƠNG 1

Bốn chục năm trường cách biệt nhau
Bao nhiêu kỷ niệm bấy nhiêu sầu
Cây đa đầu xóm dân còn trú?
Ao cá giữa làng khách vẫn câu?
Miếu mạo tứ thời từ cúng tế?
Chùa chiền bát tiết vãi hương dầu?
Nhớ quê phóng mắt tìm mây Bắc
Tâm sự vơi đầy biết để đâu!

Biết để vào đâu hết đoạn trường
Nỗi lòng tha thiết nhớ quê hương
Con diều cao vút nơi đầu xóm
Tiếng sáo vi vu ở cuối đường
Mùi lúa thơm lừng,màu trái chín
Hương sen thoang thoảng bóng hồ gương
Tình quê lai láng bao tâm sự
Chỉ ước quê xưa được phú cường
TRUONG GIANG

HƠI ĐỒNG
Xưng mình là Thánh, nhận là Tiên
Tiên, Thánh chi mô chỉ hám tiền
Đạo lý bán non cho lũ cướp
Luân thường mua góp của phường điên
Chỉ vì mùi bạc mưu lừa đảo
Bởi tại hơi đồng tính xỏ xiên
Bán nghĩa, buôn nhân ai đó tá?
Sao không nghĩ đến lẽ oan khiên!

Oan khiên chồng chất lắm ưu phiền
Chỉ tại trường đời quá đảo điên
Nói ngược là xuôi vì thích bạc
Thay đen thành trắng bởi ham tiền
Thiện tâm ít bạc thường mang họa
Aỳc đức nhiều vàng chẳng mắc xiên
Đảo lộn kỷ cương đều bởi nó
Nhân tình, thế thái quá vô duyên
TRUONG GIANG

HỀ MỚI TUỒNG XƯA

Đỗ Mười sắp chết đứa náo thay?
Hay lại chưng ra lũ mặt dày.
Dốt nát chương trình đều vá víu,
Ngu đần kế hoạch thảy loay hoay.
Tham quan vẫn cứ tăng đầy dẫy,
Ô lại nào đâu giảm mảy may.
Đổi mới bày mưu rồi mới đổi,
Đứa chuyên nghề cuốc thế tên cày.

Đứa chuyên nghề cuốc thế tên cày,
Chức trọng quyền cao nó đắm say.
Bạc nén vơ càn từ ô chốn ấy ô
Vàng thoi cướp giật ô tại nơi này.ọ.
Gia Quy chắp vá, toàn đi mượn,
Quốc Pháp lăng nhăng, rặt hỏi vay.
Đất nước xác xơ,dân đói rách,
Chung quy bởi tại lũ ăn mày..
***************************************************
HOA HỒNG
Một đoá Hồng hoa giá mấy vàng,
Sắc màu trang nhã quả là sang.
Trang hoàng Khánh Hạ tươi thôn xã,
Tô điểm Tân Xuân đẹp xóm làng.
Xã hội có Hồng thêm lịch lãm,
Nhân quần không Cúc thiếu khang trang.
Trần gian tươi thắm vì hoa cả,
Lại đượm mùi thơm rất dịu dàng.

Dịu dàng gây cảm hứng thi nhân,
Đắc ý nên câu thực tuyệt trần.
Trạng, Luận, đối niêm vần rất xứng,
Phá, Thừa so vận ý vừa cân.
Nhặt khoan dòng nhạc như mây cuốn,
Trầm bổng lời thơ tựa gíó vần.
Tô điểm cho đời thêm nhựa sống,
Phô bày hương sắc, vẻ thanh tân.


TRƯỜNG GIANG

16.1.08

TRỚ TRÊU (2 files)

Năm mươi năm trước tớ hai mươi,
Sức khoẻ ngày nay chẳng vẹn mười.
Bệnh tật gia tăng không kẻ giúp,
Tiền già bớt xén lấy ai nuôi??
Cơm hàng từng bữa ăn hai mạng,
Nhà mướn chung cư ở bốn người.
Đầu tháng một tuần lương hết sạch,
Trách thay con Tạo khéo trêu ngươi.

Trêu ngươi con Tạo khéo đành hanh,
Thất thập lai hi bắt học hành.
Thầy nói thao thao như chẳng dứt,
Trò nghe lõm bõm cứ mần thinh,
Hao đơ si ít nghe không thạo,
Oát đít u đu viết chửa rành.
Thân khổ chỉ vì Em Quốc Tịch ,
Bạc râu học với trẻ đầu xanh. . . . .
TRƯỜNG - GIANG

TRỜI ĐÃ RẠNG ĐÔNG
Vầng Đông đã tỏ vẫn không hay,
Tỉnh dậy người ơi chớ ngủ ngày!!
Nương cạn, gái trai khơi mỗi phút,
Đồng khô, già trẻ tưới từng giây.
Toàn dân thế ngựa cùng lôi gỗ,
Cả nước thay trâu để kéo cầy.
Hải ngoại biết chăng dân khốn- khổ??
Vì tình dân- tộc nối vòng tay.!!

Nối vòng tay lại giúp quê- hương,
Phá nát cùm- gông hết đoạn- trường.
Tôn-giáo giập-vùi mềm tựa bún,
Nhân- quyền chà- đạp nát như tương.
Giang-sơn nghiêng- ngửa vì gian-trá,
Xã-tắc tan- hoang bởi gạt- lường.
Đảng cướp Cộng-nô đang phá nước,
Trẻ già vùng dậy giữ biên- cương.
TRƯỜNG - GIANG

TỘI NGÚT TRỜI

Công chỉ một thôi, tội cả ngàn
Hùa nhau đục khoét, phá giang san
Thanh trừng đồng chí nhằm tranh ghế
Triệt hạ đàn em để giật bàn
Đảng bán tài nguyên, buồn nẫu ruột
Đoàn buôn hầm mỏ, uất bầm gan
Toàn dân gom hận trong thiên hạ
Thiêu rụi không dung lũ bạo tàn

Bạo tàn phá nước nát như tương
Tội ác gây ra khắp nẻo đường
Dùng kẻ gian tham buôn xứ sở
Giết người trung hậu dựng quê hương
Kết bè đạo tặc, công không có,
Hiệp đảng gian nhân, tội khó lường
Quốc phá, gia vong vì giặc Cộng
Tròi không tha thứ, đất không thương
Trường Giang

TRẦN BÌNH TRỌNG
Muốn thân làm chủ cõi Nam Bang,
Đất Bắc ngôi Vua quyết chẳng màng.
Mắng giặc, tôn vinh người khảng khái,
Chửi thù, miệt thị giống sài lang.
Công danh coi rẻ quăng bờ suối,
Quyền lợi xem khinh ném vệ đàng.
Hào kiệt, anh hùng gương chói lọi,
Hậu sinh rèn luyện chữ trung cang.

Rèn luyện trung cang giữ nước nhà,
Đừng làm tủi nhục đến Ông Cha.
Không quên Dân tộc vì vàng bạc,
Chẳng phản quê hương bởi ngọc ngà.
Yêu nước chớ đem con bỏ chợ,
Thương dân đừng nấu thịt nồi da.
Sáng ngời khí tiết Trần Bình Trọng,
Há chịu ô danh trước quỷ tà.
Trường Giang

NƯỚC SẼ LẬT THUYỀN 52

Giống Cộng Sản nòi bà Tú Đễ,
Toàn một phường đồ tể, lục lâm.
Bụng toàn chứa thứ dao găm,
Nhẫn tâm đầy đọa quanh năm dân lành.
Chúng đã phá tan tành dân tộc,
Bắt dân chiêu thuốc độc Mác Lê.
Từ thành thị đến thôn quê,
Phải thông tư tưởng bùa mê “giặc Hồ”
Bắt Linh Mục tung hô chuyên chính,
Buộc Tăng Ni xu nịnh độc tài.
Chủ trương tôn giáo chia hai,
Giập vùi chính thống, xây đài “quốc doanh”.
Các tổ chức đấu tranh bền bỉ,
Phản đối phường đồ tể gian manh.
Trung ương bóc lột dân lành,
Địa phương cướp đất trở thành xứ quân.
Việc điều khiển nhân quần xã hội,
Mớ kén vò, la lối “thiên thai”.
Toàn dân chẳng kể riêng ai,
Ngay lành gán tội tay sai nhốt tù.
* Báo “Bác Đảng” lu bù viết láo,
Chẳng kể gì nhân đạo, kỷ cương.
Ba trăm tờ báo chủ trương,
Đầu trâu, mặt ngựa mở đường gây oan.
Cả guồng máy “Đảng Đoàn” phá rối,
Dân ba miền chống đối tử sanh.
Quyết đòi “giáo hội quốc doanh”
Không toa rập đảng lưu manh cướp ngày.
Hàng giáo phẩm thẳng ngay, đạo đức,
Đều bắt giam rất mực bất công.
Đi lên “chủ nghĩa đại đồng”,
Bắt dân kìm kẹp, cùm gông khốn cùng.
Trung ương đảng tiệc tùng bí tỉ,
Đủ sơn hào, hải vị chứa chan.
Toàn dân đói rách lầm than,
Đảng thì móc ruột, moi gan dân lành.
Cả dân tộc tan tành vất vả,
Cảnh khốn cùng nhục nhã te tua.
Triền miên trống gióng, chiêng khua,
Kéo bè bán nước, vào hùa buôn dân.
Bọn đầu nậu bất cần lẽ phải,
Hết thờ Nga rồi vái lạy Tàu.
Trải qua bao cuộc bể dâu,
Biên cương, lãnh hải dâng Tàu, thảm thương!!
Quên Quốc Tổ Hùng Vương dựng nước,
Quên tiền nhân thuở trước giữ nhà.
Vì ham vơ vét đô la,
Đành tâm bỏ cả sơn hà Việt Nam.
Cả dân tộc trân cam chia xẻ,
Quyết không tha những kẻ tiếm quyền.
Dân là nước, Đảng tựa thuyền,
Hẳn rồi nước sẽ lật thuyền có phen !!!
26-2-2007
TRƯƠNG GIANG